Cảm nhận tư duy và tổng hợp kiến thức

Hiển thị các bài đăng có nhãn Vấn đề tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vấn đề tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 15 tháng 10, 2017

Sau trải nghiệm cận tử, người họa sĩ quên mất cách vẽ nhưng lại năng lực phi thường


  • Trải nghiệm cận tử là một hiện tượng có thật và khá phổ biến. Nó đã được ghi nhận trong cổ thư Hy Lạp, Ai Cập, Phật giáo, Thiền học, v.v. Đáng chú ý là trong đời sống hiện đại, hiện tượng này không hề hiếm gặp, và câu chuyện có thật dưới đây là một ví dụ.
    Trong tập số 3 của chương trình phát thanh “We don’t die Radio Show” là cuộc phỏng vấn với họa sĩ Peter Anthony. Câu chuyện chân thực này sẽ cho độc giả thấy rằng, những điều siêu thường mà khoa học không thể lý giải vẫn đang xảy ra trên Trái Đất chúng ta.



    Peter Anthony (ảnh phải) trong chương trình phát thanh “We dont die Radio Show” của diễn giả Sandra Champlain (ảnh trái) (Ảnh: Youtube)

    Thế mạnh của Peter Anthony từ khi còn thơ ấu không phải là toán học mà chính là hội hoạ, bản thân anh cũng đam mê nghệ thuật và trở thành một họa sĩ. Anh cũng là người tin vào thuyết Bất Khả Tri thuyết cho rằng sự tồn tại của Đức Chúa Trời là không thể chứng minh hay chưa được chứng minh, do đó không thể biết có hay không có sự tồn tại của Đức Chúa Trời.
    Tuy nhiên, sau khi trải nghiệm thời khắc cận kề với sinh tử, khi linh hồn được “điều chỉnh hài hòa” tới tần số toán học một cách ngẫu nhiên, toàn bộ thế giới quan của anh đã đảo lộn.
    Đề cập tới trải nghiệm thần kỳ này phải trở lại những năm cuối thập niên 80 khi Peter mắc bệnh lao và bị thủng đường ruột. Bởi bác sĩ chẩn đoán nhầm nên Peter đã lỡ mất cơ hội điều trị, tình trạng sức khỏe của anh nhanh chóng trở nên tồi tệ, gây nguy hiểm tới tính mạng. Trong giây phút hôn mê khi cận kề cái chết, anh nhìn thấy luồng ánh sáng chói lòa rực rỡ phát ra ở cuối một đường hầm.
    Các mật mã số học
    Peter chia sẻ: “Khi đi xuyên qua luồng ánh sáng đó, điều đầu tiên tôi nhìn thấy chính là một loạt các mật mã số học, đây là một loại thông tin mà tôi không thể lý giải. Không chỉ là những con số và phương trình kèm theo đó, tôi còn nghe thấy một loại âm nhạc mà tôi chưa từng nghe qua, nhìn thấy một thứ màu sắc mà tôi chưa từng nhìn thấy”.
    Khi đó người dẫn chương trình hỏi anh: “Đó là thể loại âm nhạc như thế nào?”, Peter đã trả lời rất tỉ mỉ: “Đó là tổng hợp các loại âm thanh… Nếu chị đã từng nghe qua bản nhạc ‘Messe in c-moll KV 427’ của Mozart và ‘Requiem’ thì có thể hình dung được loại âm nhạc đó, giống như phần cao trào tuyệt đỉnh nhất của bài hát. Đây quả thật là điều trên cả tuyệt vời. Tất cả các thanh âm đều đi kèm với những màu sắc khác nhau, đó là những sắc màu tươi sáng rực rỡ nhất, khó có thể dùng lời nói hay ngôn ngữ hiện đại của chúng ta để miêu tả”.
    Quyết định quay về thế gian
    Peter chia sẻ, trong trải nghiệm cận tử anh còn được trò chuyện với Thần linh. Vào thời khắc quyết định trở về thế gian, anh không hề hoài nghi về thế giới này, mà qua đó càng hiểu biết sâu sắc hơn về thế giới và những vấn đề mà anh phải đối diện.
    Trong thời gian dài đằng đẵng và chật vật để hồi phục, từ trải nghiệm mà anh gọi là “thể nghiệm siêu tự nhiên kỳ lạ” của mình, anh đã tìm được sự an ủi. Theo anh, những trải nghiệm đó vô cùng sâu sắc, mặc dù đối với người khác nó có đôi chút “điên cuồng”.
    Peter mỉm cười nói: “Khi nghe tôi kể, ánh mắt của bạn bè và vị bác sĩ điều trị trông giống như thể, tôi bị trói trên vật thể bay của người ngoài hành tinh hay là vừa dùng bữa với quái vật huyền thoại Big Foot vậy”.
    Anh tiếp tục câu chuyện thú vị của mình: “Từ đó tôi càng sống nội tâm hơn, ít nói hơn bởi không có ai muốn nghe tôi nói. Không có ai muốn thảo luận về những điều tôi đã trải qua”.
    Một số thay đổi trong cơ thể cũng theo đó mà tới: Cơ quan cảm giác của Peter trở nên mẫn cảm một cách khác thường, anh so sánh bản thân mình với một chú sói hoang ở Alaska trước khi đi săn, khứu giác, thính giác và thị giác đều trở nên nhạy bén một cách siêu thường.
    Và có một điều kỳ lạ, ngay khi anh ngồi cạnh giá vẽ và bảng màu quen thuộc của mình, đột nhiên trong anh xuất hiện cảm giác vô cùng lạ lẫm, nhất là khi cầm cây cọ vẽ mà anh yêu thích xưa kia.
    ‘Kỹ năng nghệ thuật bỗng bỏ tôi mà đi…’
    Từ khi sinh ra, nghệ thuật là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của Peter. Từ màu nước cho tới đất sét, anh đã sử dụng qua các chủng các loại vật liệu khác nhau để sáng tác. Anh cũng theo học một lớp hóa trang đặc biệt, đồng thời đảm nhiệm chức vụ cố vấn cho chương trình hình tượng doanh nhân.
    Nhưng sau trải nghiệm cận tử này, Peter bỗng trở thành một người ở ngoài ngành. Anh vẫn có thể vẽ một chút, vẫn có thể nặn một bức tượng nhưng những kỹ năng đó càng ngày càng rời khỏi tầm tay.
    Khả năng tính nhẩm hỗ trợ giúp cảnh sát phá án
    Đồng thời một đam mê khác lại lớn lên trong anh, đó là niềm say mê với toán học. Peter chia sẻ: “Từ sau trải nghiệm cận tử, tôi bắt đầu có hứng thú nghiên cứu về toán học cổ đại và thuật toán bói mệnh. Tôi cảm nhận được những con số không chỉ đơn thuần chỉ dùng để tính toán mà nó còn có ý nghĩa nào đó to lớn hơn. Tôi bắt đầu coi những con số như một hình thức giao tiếp”.
    Khả năng thu thập thông tin qua những con số của anh đột nhiên tăng lên, không chỉ vậy anh còn có thể tính nhẩm nhanh chóng. Anh bắt đầu sử dụng khả năng mới này để trợ giúp cảnh sát phá án.
    Cũng từ đó Peter sống đồng thời hai cuộc sống: Anh tiếp tục tham gia làm tư vấn chương trình hình tượng doanh nhân, đồng thời cũng bắt đầu phối hợp với cảnh sát thực hiện điều tra.
    Vụ án đầu tiên Peter tiếp nhận là một án mạng. Căn cứ vào hàng loạt các con số về thời gian tử vong, số nhà… một luồng ánh sáng xuất hiện giúp anh đưa ra các phán đoán. Anh giải thích: “Hãy tưởng tượng bạn đang xem một bộ phim trên đĩa DVD. Khi ấn vào nút tua đi bạn sẽ xem được những hình ảnh chạy vụt qua, từ đó bạn có thể hình dung về kịch tính của bộ phim nhưng lại không thể biết được rốt cuộc cụ thể xảy ra điều gì. Khi hình ảnh không ngừng được tua lại, cuối cùng bạn sẽ hình dung một cách xác thực về toàn bộ bộ phim”.
    Cách sống đồng thời hai con người 
    Trong vòng 15 năm từ năm 1999 đến 2007, anh không nói với bất kỳ ai việc mình vận dụng siêu năng lực để làm một nhân viên điều tra. Tuy nhiên khi chương trình siêu tự nhiên trên truyền hình mời anh làm khách mời với tư cách nhân chứng, thì người thân và bạn bè đều biết được những việc liên quan đến trải nghiệm cận tử mà anh chưa bao giờ chia sẻ.


    Peter Anthony (Ảnh: sbiands.org)

    Sau sự việc này anh thở phào nhẹ nhõm, cảm thấy như vừa trút được gánh nặng. Chịu đựng phán xét bình phẩm của bạn bè là một việc vô cùng khổ tâm, tuy nhiên anh cũng phát hiện có rất nhiều người có trải nghiệm giống mình, và họ có thể thấu hiểu để chia sẻ cùng anh.
    Tấm lòng cởi mở từ những người có trải nghiệm giống nhau
    Hiệp hội Nghiên cứu Cận tử Quốc tế (Association for Near Death Studies, IANDS) là tổ chức đã giúp anh có cơ hội giãi bày lòng mình.
    Anh hồi tưởng lại lần đầu tiên tham gia đại hội thường niên của hiệp hội, anh đã phải nhiều lần dừng lại để lấy lại bình tĩnh.
    “Tôi bước vào một căn phòng lớn, trong đó là những người cùng cảnh ngộ và có trải nghiệm như tôi. Cùng cảnh ngộ gặp nhau nên chúng tôi như người nhà, điều ấy làm tôi xúc động tới trào nước mắt. Hãy tưởng tượng bao nhiêu năm trời tai bạn liên tục phải nghe những lời lặp đi lặp lại như: “Đây không phải là điều có thật. Đây là tác dụng phụ của thuốc gây mê”. Tuy nhiên trong lòng bạn thực sự biết bạn đã nhìn thấy điều gì đó, đều là những điều có thực, còn mọi người thì cứ khăng khăng phủ định là không phải”.
    Anh nói tiếp: “Được nói ra, được mọi người đồng cảm và biết rằng những gì mình trải qua là hoàn toàn có thật, cảm giác đó thật tuyệt vời!”
    Khi cùng giao lưu với mọi người, anh mới biết rằng họ cũng giống như anh, cũng từng sống trong nỗi cô đơn cho tới khi tìm được những người đồng cảnh ngộ, những người không cười nhạo mà hoàn toàn lắng nghe chia sẻ của mình.
    Đại đa số người có trải nghiệm cận tử đều thu được những điều tích cực giúp họ có sức mạnh vượt qua bệnh tật và biết trân trọng giá trị của sinh mệnh. Tuy nhiên Peter chia sẻ: “Thực sự cũng có những người vì bạn bè người thân không thể lý giải mà trở nên cô đơn mặc cảm, họ quay sang nghiện rượu, hút thuốc, thậm chí cuộc sống trở nên bi thảm chán nản tới mức muốn tự tử”.
    Peter nói thêm: “Tôi từng bị gọi là diễn viên đoàn xiếc, là kẻ lừa dối và bị mọi người đối xử vô cùng tàn ác. Tuy nhiên hiện tại tôi không còn để ý họ nhìn nhận ra sao về mình”.
    Viết sách chia sẻ trải nghiệm giúp cuộc sống mang đầy sự biết ơn
    Cho dù có rất nhiều người không tin lời anh nói, nhưng Peter vẫn hy vọng việc chia sẻ trải nghiệm của bản thân có thể giúp ích cho mọi người.
    Peter nói: “Cho dù những trải nghiệm tôi chia sẻ ra chỉ có thể giúp được một người, dù như thế tôi cũng cảm thấy được an ủi, giúp tôi có thể nhẫn chịu mọi lời giễu cợt của tất cả mọi người”. Cũng bởi vậy anh đã viết lại những trải nghiệm của mình trong hai cuốn sách ‘Key Master’ và  ‘The Accidental Prophet’.

    Key Master – cuốn sách nổi tiếng của Peter Anthony kể về trải nghiệm cận tử của anh (Ảnh: Amazon)

    Những người chưa từng trải qua điều tương tự có lẽ sẽ không tin những gì Peter nói. Và đứng trước phản ứng của độc giả, anh đã chuẩn bị cho mình tâm lý và tư tưởng, trong lòng không hề oán trách. Điều đó cũng giống như một bộ phim dẫu gây chấn động lòng người nhưng khán giả vẫn không thực sự thấu hiểu được trải nghiệm chân thật trong các cảnh phim.
    Cũng giống như những người từng có trải nghiệm cận tử và từng chết đi sống lại khác, Peter cảm thấy trong mình có nguồn nhiệt huyết hoàn toàn mới. Nguồn năng lực mới và cơ hội nhìn thấu thế giới này ở một góc độ khác đã khiến anh không còn là một tín đồ của thuyết Bất Khả Tri, thế giới quan của anh từ đó cũng dần dần phát sinh chuyển biến.
    “Tôi bắt đầu một ngày mới với đầy lòng biết ơn và trân trọng từng ngày đã trôi qua. Trong lòng tôi luôn tâm niệm một điều: Cảm ơn Trời Phật, tạ ơn Thượng Đế đã cho con cơ hội thứ hai được quay lại thế giới này”.
    Theo Đại Kỷ Nguyên tiếng Trung
    Kiên Định biên dịch - 
    15/10/2017
    Nguồn chép lại từ http://www.daikynguyenvn.com

    Share:

    Thứ Bảy, 14 tháng 10, 2017

    Kỳ Bí Chuyện: Chiếc Áo Cà Sa Của Hòa Thượng Huệ Năng

  • Trong lịch sử Trung Quốc có một vị cao tăng với rất nhiều truyền thuyết ly kỳ, chính là Lục tổ Huệ Năng của Thiền tông. Câu chuyện về chiếc áo cà sa của Lục tổ, cũng ẩn chứa rất nhiều thiên cơ ở trong đó.


    Kỳ Bí Chuyện: Chiếc Áo Cà Sa Của Hòa Thượng Huệ Năng.
    Theo truyền thuyết trong lịch sử Trung Hoa có một thầy tu tên là Huệ Năng. Ông là tổ đời thứ 6 trong môn Thiền tông của Phật gia. Huệ Năng đã ngộ trong trường phái Phật gia. Vào lúc đó, Hoằng Nhẫn, là Ngũ tổ của Thiền tông, đã lấy ra một chiếc áo cà sa dệt bằng vải lụa và sợi bông vải. Nó là vật tượng trưng cho quả vị của môn phái Thiền tông.
    Lúc Hoằng Nhẫn truyền áo cà sa, đã trịnh trọng nói với Huệ Năng: “Áo cà sa này chính là bảo vật mà Đạt Ma sư tổ mang về từ Thiên Trúc Quốc. Cà sa không phải Phật Pháp, nhưng nó và Phật Pháp có quan hệ mật thiết không thể tách rời. Y (y phục) đi theo pháp, truyền pháp tất nhiên truyền y, y tại như pháp tại. Hôm nay ta đem y này cho ngươi, ngươi sẽ là tổ sư đời thứ 6 của Thiền tông”.
    Huệ Năng cung kính tiếp nhận cà sa, nhìn kỹ, quả nhiên là bảo vật hiếm thấy. Chiếc áo cà sa được chế tác rất công phu, màu sắc rực rỡ, cầm trên tay cảm giác rất nhẹ, nó là dùng bông của cây Thiên Trúc mà may thành.
    Huệ Năng lường trước được khi mình kế thừa y bát từ Ngũ tổ, tất sẽ khiến các sư huynh đệ khác đố kỵ, vì thế sau canh tư, ông đã mang theo hành trang, một mình lặng lẽ đi về hướng Lĩnh Nam.
    Để tránh nguy hiểm, Huệ Năng đi ngày đêm không ngừng nghỉ, nhưng khi đến Đại Dữu Lĩnh, thì phát hiện thấy mấy trăm người hò hét đuổi theo. Người đi đầu trong nhóm đó là một vị tăng nhân tên Huệ Minh.
    Huệ Năng lúc này vừa đói vừa mệt mỏi, thật sự chạy không nổi, trong lòng ông hiểu rõ rằng hôm nay sẽ không thoát khỏi tay của những người này, đành đem cà sa đặt trên một tảng đá ở ven đường, hướng về phía người đang chạy đới nói: “Cà sa là tín vật truyền pháp, sao có thể dùng vũ lực cướp đoạt? Có y vô pháp, thì cũng chỉ như hoa ở trong gương!”. Rồi trốn vào bụi cỏ ở ven đường.
    Huệ Minh chạy nhanh đến, thấy cà sa đặt ở trên tảng đá, đưa tay ra lấy, nhưng kỳ tích đã xuất hiện. Chiếc áo cà sa lại giống như mọc rễ ở trên đá, dù cho hắn dùng sức thế nào cũng không thể lay chuyển được. Huệ Minh quá sợ hãi, trong nháy mắt ông ta đã ngộ được uy lực vô biên của Phật Pháp, liên cung kính thi lễ chào hỏi Huệ Năng, thỉnh mời Huệ Năng thuyết pháp.
    Huệ Năng sau khi chia tay Huệ Minh thì đặt chân đến vùng đất Lĩnh Nam, đến chùa Bửu Lâm. Mấy tháng sau, trong một đêm, xuất hiện một nhóm hòa thượng, mặc áo ngắn, cầm bó đuốc, đi vào phía sau cửa chùa dùng sức phá cửa.
    Huệ Năng vội vàng xoay người rời khỏi giường, sau đó im lặng lắng nghe, một tiếng nói của người lạ vọng vào: “Huệ Năng, mau đưa cà sa giao ra đây, bằng không thì chúng ta sẽ không khách khí!”.
    Muốn đoạt lấy cà sa! Huệ Năng không có thời gian để suy nghĩ, vội cầm chiếc túi đựng áo cà sa vội vàng chạy ra ngoài theo hướng cửa trước, rồi chạy về phía núi nhỏ ở phía trước chùa Bảo Lâm.
    Lúc chạy lên đến lưng chừng núi, Huệ Năng quay đầu lại nhìn, chỉ thấy mấy chục bó đuốc nối liền nhau giống như một đầu rắn dài, đang tiến về phía mình. Huệ Năng mệt mỏi chạy không nổi nữa, liền chui vào một khe đá lớn trong núi.
    Sau đó không lâu, Huệ Năng ngửi thấy mùi khói. Ông ngó đầu xem xét, thì thấy toàn bộ dốc núi đã trở thành một biển lửa. Bởi vì các tăng nhân kia tìm khắp dốc núi, không thấy bóng dáng của Huệ Năng, trong cơn tức giận đã phóng hỏa đốt núi, cho rằng như vậy Huệ Năng có thể ngoan ngoãn lộ diện.
    Trong lúc nguy cấp, Huệ Năng nghĩ đến chiếc áo cà sa trong tay mình. Nghĩ rằng tính mạng mình không đáng tiếc, nhưng Pháp bảo Phật môn này thì không thể bị hư hại, làm thế nào đây? Dưới tình thế cấp bách, ông nhớ tới lúc Huệ Minh đoạt cà sa không lấy được cà sa ra khỏi tảng đá. Cà sa này trong tay, chính là pháp khí, thì làm sao lửa có thể đốt cháy được.
    Nghĩ tới đây, Huệ Năng nhìn lửa lớn đang tiến về phía mình, nhưng trong tâm lại không chút hoang mang, mặc áo cà sa lên người, ông ngồi trên một tảng đá, nhắm mắt nhập định. Lập tức, ông cảm giác thấy thân người mình chìm xuống dưới, như tách khỏi thế giới xung quanh, không nhìn thấy ánh lửa nữa, khói cũng tiêu tan, thế giới trở lên yên tĩnh một cách lạ thường.
    Khoảng chừng 2 canh giờ sau, Huệ Năng cảm thấy như bị một luồng ánh sáng mãnh liệt đâm chiếu vào mắt, ông mở mắt ra xem, thấy một mặt trời đỏ từ hướng Đông nhô lên. Cảnh vật hôm qua vẫn là cây cỏ tươi tốt, lúc này đều bị thiêu thành tro tàn. Rồi ông nhìn lên người mình, chiếc áo cà sa vẫn rực rỡ chiếu sáng, có một lớp tro bụi bám vào, nhưng không có bất kỳ hư hại nào.
    Lúc Huệ Năng quay người chuẩn bị rời đi, vô tình nhìn xuống tảng đá ở dưới chân, ông lại càng ngạc nghiên hơn. Thấy chỗ mình ngồi lúc nãy đã hõm xuống như một cái hố, hai đầu gối của ông in rõ một một ở trong đó, ngay cả hoa văn của áo cà sa cũng đều in trong hố đá này, Huệ Năng lại một lần nữa cảm nhận được uy lực của Phật Pháp. Sau đó Huệ Năng trở về Tào Khê, các đệ tử của ông đến vận chuyện tảng đá này về, và đặt là “đá tránh nạn”.
    Huệ Năng trước khi viên tịch, nói với các đệ tử của mình: “Lúc trước Đạt Ma tổ sư là ngộ đạo từ một câu nói, và theo thể ngộ của mình sáng lập ra pháp môn Thiền Tông, truyền pháp cứu mê. Một bông hoa khai nở ra 5 cánh. Từ Đạt Ma tổ sư đến đời của ta là truyền thừa được 5 đời.
    Ngũ tổ Hoằng Nhẫn đại sư cũng dặn dò ta: ‘Có tranh đoạt y, thì dừng lại không truyền nữa’, cho nên cà sa Thiền tông truyền đến Huệ Năng ta là dừng lại, không truyền thừa cho đời sau nữa”.
    Vì thế, áo cà sa của pháp môn Thiền tông đã truyền xuống chỉ tới đó. Áo cà sa theo Phật Pháp. Truyền Pháp có nghĩa truyền áo cà sa. Áo cà sa chỉ tồn tại khi Pháp tồn tại. Nó có nghĩa Phật giáo Thiền tông đã tự đi đến cuối đường bởi vì áo cà sa đã ngưng truyền thừa.
    theo Tinhhoa.net
    Nguồn http://ydvn.net

    Share:

    Chủ Nhật, 14 tháng 5, 2017

    Ly kỳ chuyện thiền sư Việt hàn long mạch, phá trấn yểm của Cao Biền

  • Cao Biền, một bậc thầy phong thủy nhà Đường, khi đi sứ tới An Nam, nhận thấy làng Cổ Pháp là nơi sẽ sinh ra bậc đế vương, liền ra tay “cắt đứt long mạch”. Tuy nhiên, sự việc này đã không qua mắt được một vị thiền sư thời đó.

    trấn yểm long mạch, phong thủy, cao biền,
    Cao Biền, một bậc thầy phong thủy nổi tiếng nhà Đường. (Ảnh: Kiến thức Online)
    Theo sách “Thiền Uyển tập anh” ghi chép thì vào thời nhà Đường ở Trung Quốc, vua Đường Ý Tông muốn xâm chiếm nước Nam, nhưng nhận thấy vùng đất nơi đây thời kỳ nào cũng có những nhân tài nổi lên. Vua Đường bèn tìm cách trấn yểm linh khí của nước Nam.
    Năm Giáp Thân (864), vua Đường cho Cao Biền là một nhà phong thủy đại tài của Trung Quốc thời đó đến Giao Châu làm Tiết Độ Sứ. Khi đi, vua Đường dặn dò Cao Biền rằng:
    “Trưng Thị là hai người đàn bà mà làm rung chuyển cả cơ nghiệp nhà Đông Hán; rồi lại Triệu Ẩu, Lý Bôn … Làm cho ta vất vả lắm mới dẹp được. Nay trẫm thấy linh khí An Nam quá thịnh, e sau có biến. Khanh đến đó trước bình giặc Nam Chiếu, sau tìm cách trấn yểm linh khí An Nam, đi và vẽ bản đồ về cho trẫm”.
    Cao Biền đi khắp nơi xem xét địa thế và phát hiện có rất nhiều linh khí ở nước Nam. Khi cho xây thành Đại La bên sông Tô Lịch, biết đất ở làng Cổ Pháp có khí tượng Đế vương, Cao Biền đã cắt đứt long mạch nơi đây bằng cách đào đứt con sông Điềm (các nghiên cứu cho rằng có thể là sông Đuống ngày nay) và 19 điểm ở ao Phù Chẩn (thuộc làng Phù Chẩn, thị trấn Từ Sơn, Bắc Ninh).
    Tuy nhiên, việc Cao Biền phá hoại phong thủy đã bị thiền sư nước Nam tiên đoán từ trước…
    Câu chuyện bắt đầu từ thiền sư Định Không thuộc thế hệ thứ 8 thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi (diệt hỷ), ở chùa Thiện Chúng thuộc địa phận hương Dịch Bảng, phủ Thiên Đức. Khoảng niên hiệu Đường Trinh Nguyên (785-805), sư dựng chùa Quỳnh Lâm ở bản hương. Khi xây chùa, thợ làm móng đào được một bình hương và mười chiếc khánh đồng. Sư sai người đem ra sông rửa sạch, một chiếc rơi xuống sông trôi liệng mãi đến khi chạm đất mới nằm im.
    Sư giải thích rằng: Thập khẩu là chữ cổ, Thủy khứ là chữ Pháp. Còn thổ là chỉ vào hương ta. Nhân đó đổi tên hương Diên Uẩn thành hương Cổ Pháp. Và có đọc hai câu thơ rằng:
    Pháp khí xuất hiện thập khẩu đồng chung
    Lý hưng vương tam phẩm thành công.
    Dịch là:
    Pháp khí hiện ra mười cái chung đồng
    Họ Lý làm vua ba phẩm thành công.
    Ngay từ trước khi Cao Biền nhận lệnh trấn yểm nước Nam thì năm 808, thiền sư Định Không đã cho gọi người kế tục mình là Thông Thiện đến dặn dò trước khi viên tịch rằng: “Ta muốn mở mang hương ấp, nhưng sợ ngày sau gặp nạn, tất có dị nhân đến phá hoại mạch đất của hương ta. Sau khi ta qua đời, ngươi khéo giữ đạo pháp của ta để sau gặp người họ Đinh thì truyền lại. Thế là ý nguyện của ta được toại thành”.
    Vậy là vị thiền sư đã tiên đoán được việc Cao Biền phá phong thủy, và việc người kế tục đệ tử của ông sẽ mang họ Đinh.
    Sau này, sư Thông Thiện gặp một đệ tử rất thông minh là Đinh La Quý. Đoán biết đây là người kế tục mình nên ông đã truyền thụ hết các sở học cho đệ tử.
    Theo dân gian thì ngài La Quý tùy phương diễn hóa, nói ra lời nào đều là lời sấm truyền. Ngài rất thông tuệ, nhìn xuyên sông núi, biết rõ nguồn gốc phong thủy, biết quá khứ và tiên đoán được tương lai.
    Thiền sư La Quý trụ trì chùa Song Lâm, làng Phù Linh, phủ Thiên Đức. Khi sắp tịch, Sư bảo đệ tử là Thiền Ông rằng: “Thuở trước Cao Biền xây thành (Đại La) bên sông Tô Lịch, vì biết vùng đất làng Cổ Pháp có khí tượng đế vương, nên cho đào đứt sông Diềm và những hồ ao liên hệ … đến mười chín chỗ mà yểm đó.
    Nay ta đã sai Khúc Lãm lấp lại như xưa. Ta lại trồng một cây Miên (cây gạo) ở chùa Minh Châu để trấn chỗ bị đứt. Biết sau này ắt có vua hiền ra đời, để vun bồi chánh pháp. Sau khi ta tịch, ngươi nên đắp lên một nền đất, xây lên ngọn tháp, lấy pháp để kín trong ấy, chớ cho người thấy”.
    Vậy việc nối lại khí tượng đế vương làng Cổ Pháp có tác dụng không? Vị đế vương làng Cổ Pháp là ai? Trong sách “Thiền Uyển tập anh” có ghi chép rằng, trước khi mất ngài La Quý có làm một bài thơ tiên đoán như sau:
    Đại sơn long đầu khỉCù vĩ ẩn châu minhThập bát tử định thiềnMiên thọ hiện long hìnhThổ kê thử nguyệt nộiĐịnh kiên nhật xuất thanh
    Dịch là:
    Đại sơn đầu rồng ngửngĐuôi cù ẩn Châu minhThập bát tử định thànhBông gạo hiện long hìnhThỏ gà trong tháng chuộtNhất định thấy trời lên
    Ở câu thứ 3 “thập bát tử” tức chữ thập (+), chữ bát (八), chữ tử (子) tạo thành chữ Lý (李) ý chỉ vị vua sau này mang họ Lý. Hai câu sau nói ra vị vua này lên ngôi vào tháng chuột (tháng 11) năm gà (tức năm dậu 1009). Vị vua mang họ Lý lên ngôi vua vào tháng 11 năm 1009 chính là vua Lý Công Uẩn.
    Năm 1009, trước khi Lý Công Uẩn lên ngôi, một tia sét lớn đánh vào cây bông gạo khiến cây bị gãy cành, nhưng cây không chết. Chính vì thế mà làng Diên Uẩn, Cổ Pháp còn gọi là làng Dương Lôi hay Đình Sấm. Có giả thiết cho rằng sự việc này cũng là do thầy phong thủy Trung Quốc làm.
    Đúng như lời đoán trước khi mất của thiền sư La Quý, vua Lý Công Uẩn là người làng Cổ Pháp. Khi ông lên ngôi đã duy hộ Phật Pháp, dùng Phật Pháp để giáo hóa muôn dân, khiến đạo đức thăng hoa, xã hội ổn định. Kể từ đó, Đại Việt hùng mạnh, mở ra thời kỳ thịnh trị.
    Sự lên ngôi của vua Lý Công Uẩn đã mở ra thời kỳ cường thịnh của Đại Việt, cũng cho thấy sự tài ba của các thiền sư Việt khi phá giải thuật phong thủy của Cao Biền.
    Nguồn TinhHoa tổng hợp

    Share:

    Thứ Ba, 4 tháng 4, 2017

    Bí mật giờ mới kể của nhà ngoại cảm hàng đầu thế giới

  • Tờ The Mirror nổi tiếng của Anh mới đây đã đăng tải bài viết về Laura Lynne Jackson, người có thể “nói chuyện” với những đứa trẻ xấu số đã qua đời…

    Đối với nhiều người, Laura Lynne Jackson là 1 người vô cùng kỳ lạ, bởi cô thường hay nói chuyện 1 mình. Đôi khi, họ lại tưởng cô bị điên. Nhưng thực tế không phải vậy. Đó là lúc Laura nói chuyện với những đứa trẻ không tồn tại.
    Laura Lynne Jackson được cho là một nhà ngoại cảm hàng đầu thế giới.
    Laura được biết tới như là 1 nhà ngoại cảm hàng đầu thế giới. Và cô được ví như chiếc cầu nối đặc biệt giúp nhiều bậc phụ huynh liên lạc với những đứa con đã chết của họ.
    Laura tin rằng “thế giới bên kia” có tồn tại và đây là nơi sinh sống an toàn của các linh hồn. Tuy nhiên, không phải chỗ nào cô cũng có thể nói chuyện được với các linh hồn, mà chỉ khi ngồi vào ô tô thì khả năng của cô mới có thể phát huy.

    Cô chia sẻ, mỗi khi bước vào xe ô tô cô lại có 1 cảm giác vô cùng đặc biệt. Cô nghe thấy những tiếng nói chuyện lạo xạo, những lời mô tả nho nhỏ và hình ảnh mờ mờ ảo ảo của rất nhiều đứa trẻ. Các bé đều muốn gặp cha mẹ của mình và nhờ cô giúp đỡ.
    “Các bé như muốn nói rằng: “Tôi ở đây, tôi vẫn tồn tại trong cuộc sống của con người”. Nhiều lúc tôi phải nói với chúng rằng, hãy nói chậm và rõ ràng, vì chúng nói rất nhanh.”
    Laura phát hiện ra khả năng đặc biệt này khi 11 tuổi. Đó là lúc mẹ của cô đến nghĩa trang thăm mộ ông cô. Laura đã đi cùng mẹ và đây là lần đầu tiên cô nhìn thấy ông mình hiện ra trước mặt.

    Vài năm sau, cô ngủ và nằm mơ đi chơi cùng với 1 nhóm bạn, trong đó có John Moncello. Nhưng trong giấc mơ, cô mơ thấy John bị ngã xuống 1 cái hố và chết. Và sự thật này sau đó đã xảy đến…
    Lúc đó, Laura rất lo sợ, cô thực sự cảm thấy sợ khả năng của mình.

    Khả năng nói chuyện với người chết từng khiến Laura Lynne Jackson rất lo sợ.
    Thời gian trôi qua, cuối cùng, Laura đã trưởng thành và cô lại vui vẻ chấp nhận khả năng của mình. Cô tin rằng đây là một món quà mà chúa trời ban tặng.
    Cô đồng ý để các nhà khoa học làm những thí nghiệm trên não mình để phục vụ nghiên cứu cho lĩnh vực tâm linh.

    Laura Lynne Jackson giúp các em bé “bên kia thế giới” kết nối được với cha mẹ mình.
    Đến nay, cô đã trở thành chiếc cầu nối hữu hiệu để truyền tải những thông điệp mà nhiều đứa trẻ muốn nói với cha mẹ mình. Đôi khi đó chỉ là những lời yêu thương, nhớ nhung mà những đứa trẻ muốn gửi đến cha mẹ chúng.
    “Tôi nghĩ rằng tất cả những đứa trẻ mà chúng ta sinh ra đều có sự kết nối với chúng ta. Dù rằng không ít trong số chúng chết vì bệnh tật, tai nạn… hoặc thậm chí bị cha mẹ bỏ ngay khi chưa thành hình thì chúng vẫn dõi theo chúng ta.
    Và nếu như thế giới thực của chúng ta không hoàn toàn an toàn cho chúng, thì ở thế giới bên kia chúng lại được an toàn và được chở che.”
    Phương Thảo (Theo Mirror)

    Share:

    Thứ Tư, 29 tháng 3, 2017

    Bùa chà kha

  • Xuất xứ từ Ấn Độ và đã truyền vào Thái Lan nhiều năm rồi, phái này thờ Thần Rắn còn gọi là Naga (cho nên những nét Bùa của Chà Kha uốn lượn như rắn). Căn bản cho người luyện Phép Chà Kha thì phải hội đủ 5 bài Kinh Chú, bao gồm: Kinh Tam Giáo, Thỉnh Tổ, Chú Hội Phép, Chú gọi Âm Binh, Kinh Cầu Nguyện, và cộng thêm10 chử Buà của 10 Vị Tổ trong bài Thỉnh Tổ (cho Thầy mỗi đêm luyện và uống). Buà Phép của Chà Kha rất nhạy bén và công dụng sài cho trăm việc như: thư ếm, chửa bệnh, trục tà, lên đài đấu, sên dầu thơm ăn nói, buà chú thương, gồng, .v.v.,

    Thỉnh Tổ và Hội Phép như sau:

    Thỉnh Tổ: Cam Cò Cây, Cam Manh Manh, Cam Hanh Phanh, Cam Mành Mảnh, Cam Mây Nghanh, Cam Manh Nghanh, Cam Sắc Xi, Cam So Rẹc, Cam Chuốt, Cam Phược.

    Hội Phép: Bờ Ri Ti Ti Tích Nặc, Bờ Ri Tích Ti Na Nặc, Phắc Cu Bờ Rích Nặc, Sắc Phịch Phổ Nặc, Ô Mạc Ten Ka Bơ Ra, Quýt Sơn Manh Manh Lơn.

    Công dụng của bài hội phép, ngoài luyện ra còn có thể sên buà và dùng cho những chử buà Chà Kha mà không có chú kèm theo. Đây chỉ là căn bản cho người nhập môn luyện pháp Cha Khà, còn biến hoá và sử dụng thì nhiều lắm .

    .KINH HỘ THẦN CHÚ CHÀ HỘ ĐỘ:

    Chú của Chà (Hồi Giáo) công dụng trừ thù oán , hoá giải mọi sự công kích hãm hại mình , làm cho kẻ thù quên đi mình , mỗi chiều chạng vạng em ra sân (lộ Thiên) , đọc 7 lần thổi mỗi hướng . Tuần tự đông , tây , nam , bắc ….... vị chi 28 lần tất cả . Làm chừng 3 đến 7 ngày thì hay rồi , nếu em là nữ làm 9 ngày càng tốt ! Trước khi đọc thổi nên vái qua như sau :
    CẦU XIN ƠN TRÊN TRỜI , PHẬT , THẦY TỔ , MẸ SANH ME ĐỘ , TRÊN ĐẦU TRÊN CỔ , CỬU HUYỀN THẤT TỔ , BÊN NỘI BÊN NGOẠI , CẢM ỨNG CHỨNG MINH PHÙ HỘ cho con ( tên họ tuổi v.v….cầu xin…..) (3 lần)


    Sau đó đọc Chú Chánh sau đây thổi 4 hướng , 7 lần thổi mỗi hướng :
    A A CẮC TA
    A LY CÂY NA
    CẮC TA NA BI
    MA TY CẮC TA
    A LO IN LA MÔ HA MÁCH
    DA HU A CU BA XI .

    Trong thời gian cầu tránh không ăn thịt heo tốt hơn , và câu này còn công dụng ra Tòa , kiện tụng , Quan Tư tất thắng.
    . KINH HỘ SẮC LỆNH CẦU THƯỢNG ĐẾ- TỔ CHÀ:
    Bís mi la hia rét ma nia ra him
    A hu du bi ca ly ma tin la hi ta ma ti min colt y sạc ry ma kha lắc

    Tướng Chà trừ tà, thư ếm đọc vái thổi vô nước cho uống và sên vô gạo
    ( không muối ) dải dưới giường bệnh nhân đó. Sáng dậy và trước khi đi ngủ mỗi ngày chỉ cần đọc 21 lần, khi đọc mặt xoay về hướng Tây, hôm nào mình làm bịnh mà dùng tới Chú này thì đừng ăn thịt heo.
    Trước khi làm phép cầu Tổ Chà:

    ÔNG HA LY ở tay mặt
    ÔNG BU CÁCH ở tay trái
    ÔNG U MƠI ở trán
    ÔNG U SA MĂN ở ót
    ÔNG TỔ CHÂU GIANG ở Cù Lao Ba tiếp độ cho đệ tử v.v…...
    (Vái 3 lần như trên)
    . KINH HỘ HÒA HỢP NAM NỮ-TRỪ KHẮC KHẨU:
    Chử nầy có gốc Chà Hồi,vẻ màu đen vô khăn trắng có dầu thơm, lau miệng nói chuyện với bá xả cho không khắc khẩu nhau,thần chú : Bís mi la-ma na xê mô on lot. 

    1. Nguồn gốc

    Môn phái Trà Kha có nguồn gốc ở Phật giáo. Phật tổ khi còn mang xác tục, đi truyền giáo trong những thâm sơn cùng cốc, gặp nhiều cái nguy hiểm trở ngại gây ra bởi lòng tàn khốc của thổ dân. Thôi thì đủ thứ gian truân khổ ải : bị đánh đập, bị đâm chém. Tránh được lòng độc ác của con người thì lại sa vào nanh vuốt của thú dữ.

    Ngọc Hoàng thượng đế thấy vậy mủi lòng thương, sai ba vị thần tướng xuống ủng hộ để diệt người ác, thú độc và giúp Phật tổ làm tròn sứ mệnh thiêng liêng là cứu vớt chúng sinh. Ba vị thần tướng đội lốt rắn khi ẩn khi hiện theo sau Phật tổ. Nhưng lòng lành của Phật tổ đã tràn ngập trong vạn vật đến nỗi Phật thương xót cả kẻ ác đã hại mình. Mỗi khi ba vị thần tướng quá tay làm hại một sinh mệnh là Phật lại sa nước mắt cầu thượng đế tha thứ cho kẻ ngu dại.

    Thấy vậy ngọc hoàng phán cho 3 vị thần tướng phải truyền cho Phật một phép để hộ thân, chỉ để giữ mình mà thôi. Ba vị tuân mệnh dở phép thần thông khiến cho khi Phật bị đánh đập, đâm chém cũng không việc gì. Ba vị dưới lốt rắn quằn mình uốn khúc làm thành những hình thù kỳ lạ, Phật ghi chép lại những hình ấy và vẽ lại làm bùa. Ba vị truyền cho Phật những câu thần chú mà sau đó Phật gọi là kinh.

    * Bùa Trà Kha : cái nào cũng như hình rắn uốn mình. Vẽ bằng son đỏ trên giấy vàng vì khi ba vị thần tướng dưới lốt rắn đỏ, quằn mình thành hình bùa trên bãi đất vàng.

    * Kinh : tức là những câu thần chú, tuy nhiên kinh khác chú ở chỗ tha hồ lưỡi chạm răng.

    * Cầu tổ : Đệ tử phải thành tâm tin tưởng thì có thể cầu Tổ được. Khi cầu Tổ nhập vào mình thì người sẽ mê đi, tay chân run động như có một linh hồn nhập vào mình. Đặc điểm của Trà Kha, khi cầu Tổ được thì người học cứ lao mình đi và phun phì phì như rắn. tuy nhiên không phải ai cũng cầu Tổ được dễ dàng.

    : Tuy Trà Kha có gốc từ Phật giáo, nhưng không phải kiêng nhiều thứ khắt khe. Đệ tử Trà kha không được ăn các vật về loài bò sát, các thứ cá không vây, khế. Về cơ bản, thêm những điều kiêng cữ như các môn phái khác ( trâu, chó, rắn, rùa, baba, cá chép, đồ tanh, đồ sống ). Theo lời truyền, vì hóa thân của ba vị thần tướng là rắn, nên đương nhiên rắn tuyệt đối không được ăn, sát sinh. Và khi ba vị thần tướng thoát xác rắn thì trên cây khế, nên khế cũng không được ăn. Các đạo phù Trà kha không được xăm vào thân thể. Trong Trà kha, có thể dùng ngải cũng được. Binh Trà kha cúng chay, hay dùng 5 trái trứng luộc mà thôi + gạo, muối, nổ.
    Интернет реклама
    * Tranh Tổ : Để trên ban thờ như ta thờ bài vị. Tranh Tổ thể hiện cho ta một ý tưởng về gốc tích của Trà Kha. Có tranh trên vẽ Phật tổ từ bi, dưới có 3 ông rắn...hoặc thờ đạo bùa Tổ.
    * Lễ vật : Bao giờ cũng cúng chay và đơn giản : Một cục than, một đĩa bỏng, một nải chuối, một đĩa hoa, một chén nước trong, 9 ngọn nến, 9 cây hương. Hoa cúng Phật, chuối, bỏng và than để cúng 3 vị thần tướng. Các loài vật tu có thể thành chính quả. Rắn - bụt không bao giờ ăn sinh vật, chỉ ăn than và các thứ hoa quả.
    * Lời thề : Nhập môn Trà kha phải lập thệ trước ban thờ Tổ. Xưng tên tuổi, xin học phép Trà Kha và thề làm việc nhân đạo, giúp mình giúp đời, không bao giờ ỷ có phép Trà Kha làm điều sai quấy. Nếu trái lời thề xin Tổ thu phép và trừng phạt, không dám ân hận. 
    Phần 2 : Truyền phép - lễ nhập môn
    Thầy Trà Kha truyền phép cho đệ tử nhập môn trong 6 lần : sáu tối hoặc 3 ngày, mỗi ngày 2 lần. Muốn đơn giản có thể rút lại làm 2 ngày, như thế thì 3 buổi cuối cùng thư vào một buổi. Cũng không có hại gì cho người đệ tử và cho sự linh nghiệm cả, chỉ hơi khó nhọc cho người dạy.
    Người đệ tử nếu chịu luyện cho đến cầu tổ được mà tính nết hết sức tốt thì thày sau khi xem xét kỹ, có thể làm lễ xuất sư cho, có nghĩa là được phép làm thầy.
    * Khoán bùa : Có 2 cách khoán bùa : khoán trên giấy và khoán vào mình đệ tử. Vẽ bùa trên giấy rồi đốt một cây hương, họa bóng theo hình bùa, mồm đọc chú. Khoán vào người thì khoán đầu, ngực lưng, tay chân. Uống bao nhiêu bùa phải khoán bấy nhiêu. Cũng cần cây hương đang cháy và vẽ bùa trên mặt da. Như thế phải thuộc bùa lắm.
    Khi khoán bùa phải hết sức tưởng Tổ, nghĩa là hết sức tập trung nghĩ vào việc mình làm, lúc khoán xong thì tưởng tượng tổ đã nhập vào mình rồi ngậm hơi thổi mạnh vào giấy bùa hay chỗ khoán trên mình.
    Đệ tử phải mua 4 thước vải trắng và 2 thước vải đen. Thầy luyện phép vào vải để dùng khi truyền phép. Vải ấy sau này người dạy chôn một nơi như để yểm cho phép được lâu bền. Khi truyền phép thì vải trắng xếp dài quấn ngang cổ đệ tử, vải đen giải dưới chân.
    Tối thứ nhất : Sau khi đã bày lễ vật, thiết lập ban thờ, thắp đèn, hương , nến, đọc kinh cầu Tổ

    Kinh cầu Tổ 1
    Bờ ri ti ti tít nặc
    Bờ ri tít ti na nặc
    Thách cu bờ rít nặc
    Xắc phích lịch phổ nặc

    Kinh cầu Tổ 2
    Bờ ra tít ít xắc nặc
    Bờ ra xao ti ni phịch mặc
    Bờ ra chôn xắc xắc nặc
    Bờ ra xây tha na mặc nặc
    Bờ ra chôn bờ ruy dặc nặc

    Trong tối thứ 3 này, đốt những bùa này ra tro, hòa với dầu lạc. Thầy ngậm dầu này vào mồm phun và thoa khắp người đệ tử. Sau một ngày mới được tắm rửa để không mất dầu. Theo lời truyền lại phải phun dầu để giữ cho những bùa mình đã uống còn mãi trong cơ thể, cho sự linh ứng huyền bí không mất đi được. Như thế, phun dầu rất quan trọng trong thời gian nhập môn.

    Ngày đăng:
    Lần 1: 12:59 ngày 21/09/2014
    Lần 2: 12:59 ngày 29/03/2017

    Share:

    Giai thoại lịch sử: Phật quang núi Phổ Đà đuổi lính Nhật tháo chạy.


  • Phổ Đà Sơn cũng được gọi là Tiểu Bạch Hoa, Mai Sầm sơn nằm trong biển Đông Nam, huyện Định Hải, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc.

    Ngọn núi dài mười hai dặm, rộng sáu dặm rưỡi, chu vi hơn bốn mươi dặm. Phía đông dẫn đến Nhật Bản, phía bắc tiếp với Đăng Lai, phía nam trông về Mân Việt, phía tây thông với Ngô Hội, cách mực nước biển hơn một ngàn thước, khí hậu ôn hòa, phong cảnh u nhã đặc biệt, là Thánh địa Phật giáo Trung Quốc. Ngọn núi này cùng với Nga Mi Sơn của Tứ Xuyên, Ngũ Đài Sơn của Sơn Tây và Cửu Hoa Sơn của An Huy hợp lại xưng là Tứ Đại Danh Sơn của Trung Quốc.
    Tương truyền, đây là nơi đầu tiên Quán Thế Âm Bồ Tát phổ độ chúng sinh. Theo truyền thuyết Trung Quốc, Quán Thế Âm Bồ Tát vốn tên là Diệu Thiện, là con gái thứ ba của Sở Trang Vương thời Xuân Thu, từ nhỏ ăn chay tin Phật, một lòng xuống tóc đi tu, nhưng bị vua cha kiên quyết bác bỏ rồi giết chết. Nhưng Diêm Vương lại làm cho nàng sống lại trên một tòa sen trên chiếc hồ cạnh Phổ Đà sơn. Tại đây bà phổ độ chúng sinh, hành thiện giúp thiên hạ.
    Có một truyền thuyết rất nổi tiếng, kể rằng vào năm 858, cao tăng người Nhật là Tuệ Ngạc thỉnh một bức tượng Quan Âm Bồ Tát từ núi Ngũ Đài lên tàu đưa về nước. Nhưng khi đi qua núi Phổ Đà thì bất ngờ trên mặt biển xuất hiện hàng lớp hoa sen làm tàu không đi được.
    Cao tăng Tuệ Ngạc thầm hiểu Quan Âm không muốn sang Nhật Bản, ông liền chuyển bức tượng vào gần động Triều Âm ở trên đảo cho một ngư dân họ Trương thờ cúng, sau đó lại dựng lên một ngôi chùa, gọi là “Chùa Quan Âm không muốn đi”.
    Kể từ đó núi Phổ Đà trở thành đạo trường thờ Quan Âm Bồ Tát, hương hỏa không dứt. Trải qua thời gian, chùa chiền mọc lên ngày càng nhiều. Vào thời thịnh nhất, toàn vùng núi có 4 ngôi chùa lớn, 106 am, hơn 4.654 nhà tu, lịch sử gọi là “Chấn Đán đệ nhất Phật quốc”.
    Trong kiệt tác “Tây du ký” có đoạn tả cảnh khi Tôn Ngộ Không đến núi Phổ Đà bái kiến Quan Âm Bồ Tát như sau: “Nhưng nhìn kìa, đại dương mênh mông, thế nước đến trời. Tường quang lồng vũ trụ, khí lành chiếu non sông. Ngàn tầng sóng gào đến trời xanh, vạn lớp yên ba cuồn cuộn giữa trưa ngày…”.
    Trong “Tây du ký” cũng từng tả lại cảnh Tôn Ngộ Không nhìn thấy Phật quang ở núi Phổ Đà, đây không phải chuyện thần thoại tự dựng lên mà trong hiện thực cũng nhiều lần xuất hiện. Theo sử sách ghi lại, đã từng có lần Phật quang núi Phổ Đà đuổi quân Nhật xâm lược tháo chạy.
    Câu chuyện xảy ra vào tháng 7/1944, giai đoạn cuối thời chiến tranh chống Nhật. Lúc đó có khoảng 8.000 quân xâm lược Nhật Bản đổ bộ lên núi Phổ Đà. Đám lính làm trại ở bãi biển, phá hoại di tích, quấy rối người dân, giết mổ gia súc, gây nên một đại họa nơi thánh địa Phật giáo này. Những người dân không chịu nổi phải trốn vào trong chùa.
    Vào một buổi tối, những đài hoa sen ở xa xa trên biển bỗng lấp lánh ánh đèn. Quân Nhật tưởng tàu chiến quân Mỹ tập kích vội dùng đèn thăm dò quét qua mặt biển nhưng lại không thấy gì. Một lúc sau, đèn đuốc trên biển ngày càng nhiều, nằm rải rác khắp mặt biển. Quân Nhật nghi hạm đội Thái Bình Dương của quân Mỹ tấn công, liền cho bắn đại bác tới tấp, tiếng đại bác làm chấn động khắp khu đảo, thế nhưng “quân địch” không có phản ứng gì.
    “Đèn đuốc” theo thủy triều cuồn cuộn dâng đến, chiếu rõ mặt người trên bờ, nhưng không vào bờ. Lúc này quân Nhật tin vì mình làm rối loạn núi Phổ Đà, đắc tội với Quan Âm Bồ Tát nên đã quỳ rạp trên bờ biển rập đầu cầu xin Bồ Tát tha tội, sau đó hốt hoảng tháo chạy khỏi đất Phật. Mọi người dân khi đó đều nhận thấy đây là do “Bồ Tát phù hộ”, câu chuyện trở thành một giai thoại nổi tiếng lưu truyền đến ngày nay.
    Khanhnguyen' s Blog sưu tập
    Nguồn: Cộng đồng Phật Giáo Dấn Thân - Mạng XH Google Chủ nhân Cộng đồng: Phạm Ngọc Hải

    Share:

    Thứ Sáu, 24 tháng 3, 2017

    Câu chuyện “tái sinh” kỳ lạ và bí ẩn chưa có lời giải đáp


  • Câu chuyện thứ 1: Ngày 29/04/2005, vợ chồng anh Chaudhary sống tại Ấn Độ đã vô cùng đau xót khi đứa con trai 13 tuổi tên là Rakesh bị tai nạn xe máy và mất 5 ngày sau đó. Vài giờ trước khi Rakesh qua đời, vợ anh Chaudhary là cô Minaben bắt đầu có ảo giác, cô nói với chồng là Rakesh về nhà muốn tạm biệt mẹ và hứa sẽ quay lại.
    Một năm sau đó, vào ngày 22/04/2006, cô Minaben sinh hạ một bé trai và đặt tên con là Rakesh. Rakesh và người anh đã mất giống nhau như đúc, và có cách cư xử giống hệt nhau. Điểm đặc biệt hơn là cậu biết tất cả những chỗ anh trai mình để đồ chơi, nhận ra những người họ hàng chưa bao giờ gặp.
    Không chỉ có vậy, khi được đưa về quê của anh Chuadhary ở Palanpur, cậu bé cũng biết luôn tên của người chị họ Anila mới gặp lần đầu, cô bé này vốn ngày xưa là bạn thân của người anh trai đã mất của cậu. Rakesh cũng rủ cô bé chạy ra cái cây nơi 2 người thường chơi với nhau ngày xưa.
    Câu chuyện thứ 2: Cô bé Samlini Permac sinh năm 1962 ở Colombo, Sri Lanka vô cùng sợ nước và ô tô. Mỗi lần phải tắm cô đều la khóc dữ dội. Cô bé sau đó kể lại quãng đời "kiếp trước" của mình, khi đi mua bánh mì vào thời điểm phố xá ngập lụt, bỗng có một chiếc xe buýt đi sát bên cạnh đã hất em xuống nước.
    Em chỉ kịp giơ tay lên cầu cứu và hét lên "Mẹ ơi" rồi chìm hẳn vào giấc ngủ. Gia đình của cô bé rất bất ngờ và họ bắt đầu tìm hiểu thêm về những vụ việc tương tự như thế đã từng xảy ra ở đâu, và sau một thời gian hai người biết được câu chuyện một cô bé 11 tuổi từng chết đuối trong hoàn cảnh như thế, tất nhiên là từ khi Samlini chưa ra đời.
    Câu chuyện thứ 3: Một sự việc nữa cũng khiến khoa học đau đầu, đó là sự việc diễn ra tại làng Nathul, phía Bắc Miến Điện. Cô gái MTin Aung Myo sinh ngày 26 tháng 12 năm 1953 trong một gia đình có 3 chị em gái. Ngay từ nhỏ, cô bé luôn tỏ ra mình là con trai, và luôn miệng nói rằng là người lính Nhật đã bị quân đồng minh bắn chết cách ngôi nhà của cha mẹ cô bé gần100m.
    Cô bé rất sợ máy bay, nhất định không chịu mặc đồ con gái, nói tiếng Miến Điện rất khó khăn, thích ăn và nấu các món ăn theo khẩu vị của Nhật, và cô luôn tỏ ra buồn bã vì nhớ quê hương Nhật Bản của mình. Ma Tin Aung Myo cho biết gia đình "kiếp trước" của cô ở miền Bắc nước Nhật, trước khi nhập ngũ, "cô" là chủ một cửa hiệu nhỏ nhưng khi vào lính thì làm đầu bếp.
    Nhưng cô bé không nhớ một tên tuổi hay địa danh nào cả và cũng không chịu kết hôn, bởi theo cô, cô là một người đàn ông và chỉ kết hôn với phụ nữ mà thôi.
    Câu chuyện thứ 4: Chaokun Radzh-sutadzharn, sinh ngày 12/10/1908 ở miền Trung Thái Lan. Cha của cậu là Nai Pae, mẹ là Nang Rieng, tên thường gọi là Choti. Ngay từ khi biết nói, cậu bé đã cho mọi người biết mình là Nai Leng, người bác ruột đã mất khi cậu bé ra đời.
    Đáng chú ý là cậu có cách gõ bàn hệt như ông bác, có thể nói và đọc được các thứ tiếng mà ông bác lúc sinh thời từng học, và ngoài ra biết chính xác từng chi tiết một trong cuộc đời ông bác ruột của mình. Sau này Choti đi tu ở một ngôi chùa ở Băng Cốc và sau đó xuất bản cuốn sách về sự luân hồi này.
    Câu chuyện thứ 5: Anh Tân và chị Thuận cưới nhau được 6 năm mới sinh được cháu Nguyễn Phú Quyết Tiến (28/02/1992). Cháu Tiến lớn lên bụ bẫm, xinh xắn, trong sự yêu chiều hết mực của cả gia đình. Thế nhưng, đến năm cháu 5 tuổi, tai họa bất ngờ ập xuống.
    Hôm đó vào buổi chiều tháng Giêng, anh Tiến đang nằm đọc báo bỗng giật nảy mình chồm dậy, ruột gan như lửa đốt. Anh gọi chị Tân bảo: “Thằng Tiến đâu, tìm nó về đi”. Chị Tân tìm gọi mãi nhưng không thấy Tiến đáp lại, ra phía bờ sông gần nhà chị chỉ nhìn thấy đôi dép cháu để trên bờ. Dưới dòng nước xanh ngắt nhìn thấu tận đáy, không thấy điều gì bất thường. Chị chạy về báo anh Tân. Bỏ tờ báo, anh hớt hải ra phía bờ sông thì nhìn thấy xác cháu Tiến nổi cách bờ 3m.
    “Tôi lao xuống dòng nước, ôm chặt lấy con nhấc lên bờ. Nhưng tất cả đã quá muộn!”, giọng anh lạc đi, không giấu vẻ kinh hoàng khi nhớ về cái ngày đau thương ấy.
    Cháu Tiến mất đi khiến cả anh Tân, chị Thuận đều như kẻ mất hồn. Nỗi đau càng nhân lên gấp bội khi chị Thuận do vấn đề sức khỏe đã “không còn khả năng làm mẹ” nữa. Trong cơn vật vã, bà cụ hàng xóm mà sau này anh Tân mới biết là “bà mế” có sang vỗ vai anh và bảo: “Con yên tâm, sớm muộn gì nó cũng tìm về với con thôi!”. Khi ấy vì quá đau buồn anh cũng coi lời bà như lời an ủi của những người hàng xóm tốt bụng khác.
    Vắng tiếng cười trẻ thơ, căn nhà chỉ còn hai người lớn trở nên hoang lạnh hơn bao giờ hết. Là con một, phải chịu áp lực từ phía gia đình, anh Tân buồn bã chả thiết làm gì, suốt ngày ngơ ngẩn gần như người hóa dại.
    Năm 2006, cả hai vợ chồng vẫn chưa nguôi nỗi đau mất con thì nghe có người rỉ tai ở Xóm Cọi, xã Yên Phú, Lạc Sơn, cách nhà anh chị chừng 3km có cháu bé nghi là “con lộn” của Tiến. Cháu tên Bùi Lạc Bình (sinh ngày 06/10/2002) là con một gia đình người Mường nhưng ngay từ khi biết nói đã khăng khăng bảo mình là con người Kinh, nhà trên thị trấn Vụ Bản.
    Vốn chưa bao giờ tin có chuyện “đầu thai” như kiếp luân hồi của nhà Phật, nhưng hai anh chị vẫn đánh bạo tìm đến nhà cháu bé nọ. Thật bất ngờ khi anh chị đến nơi cháu không hề thấy lạ mà gọi bố mẹ xưng con và quấn quít không rời. Anh chị ngỏ lời mời chị Dự, người sinh cháu Bình, tên bố mẹ “mới” đặt, đến nhà chơi. Nghe thấy thế, Bình vui lắm, trèo phắt lên xe hào hứng như đứa trẻ lâu ngày được về nhà.
    Vừa vào nhà, Bình đã chạy quanh nhà tìm đồ chơi mà Tiến trước kia thích. Cháu còn tự nhiên vào giường anh Tân, chị Thuận nằm lên đó rồi bi bô: “Ngày xưa con thường ngủ chỗ này nhỉ bố nhỉ?”. “Ngay khi nhìn thấy cháu, nghe cháu nói, và thấy những hàng động của cháu vợ chồng tôi như chết đứng. Tất cả đều giống hệt như cháu Tiến thủa trước, có khác chỉ là khác về hình hài mà thôi”, anh Tân kể.
    Kể từ ngày gặp cháu Bình thì ăn ngủ chẳng yên bởi giữa hai người với đứa trẻ xa lạ dường như có mối thâm tình gì đó day dứt lắm. Nhớ cháu, thương cháu nhưng lại sợ người ngoài bảo muốn cướp con. Vợ chồng anh hiếm muộn, nhưng vợ chồng chị Dự-anh Hoan cũng chỉ có duy nhất cháu Bình là con.
    Về phần chị Dự, sau lần đến chơi nhà ấy, cháu Bình cứ nằng nặc đòi về “nhà bố mẹ”. Thấy con nhèo nhẹo khóc, chị Dự cũng không biết phải làm sao. Đưa cháu về nhà anh Tân, chị Thuận chơi thì sợ người ta dị nghị là “thấy người sang bắt quàng làm họ”. Nhưng sau một lần Bình bị ốm nặng, sốt cao, cháu cứ luôn miệng “dọa”: “Mẹ không cho con về, con lại chết lần nữa!”. Hoảng quá, lần này chị đánh liều gọi cho anh Tân đưa cháu về nhà chơi. Cháu Bình về nhà anh thì khỏe khoắn, vui vẻ, không còn đau ốm nữa.
    “Thấy cháu tha thiết quá, sau bao đắn đo chúng tôi dè dặt đề nghị gia đình anh Hoan, chị Dự cho cháu về ở với chúng tôi. Thật bất ngờ là cả vợ chồng anh chị và bà nội cháu đều gật đầu đồng ý. Chính bà nội cháu cũng bảo rằng: Ngay từ lúc thằng bé biết nói tôi đã biết nó không phải người Mường rồi”, anh Tân nói.
    Theo lời anh Tân, kể từ ngày cháu về với anh chị, hết lần này đến lần khác hai người “thử” cháu. Thậm chí, nhiều người hàng xóm cũng sang nhà để “hỏi chuyện ngày xưa”. Tất cả cháu đều trả lời vanh vách. Từ tên bác hàng xóm, đến cô giáo mẫu giáo rồi bạn bè thân của cháu, cháu đều nhớ tên. Đường về nhà, hay những câu chuyện nhỏ nhặt như ngày xưa bà nội cho cháu uống bia ở đầu làng cháu cũng nhắc lại, ngay cả việc, “cháu đã từng chết như thế nào, bị ngã xuống nước ra sao”…
    “Dù trước đó, chưa một lần tin có chuyện “hoang đường” như thế, nhưng đến lúc ấy cả vợ chồng tôi đều hoàn toàn tin rằng Bình chính là cháu Tiến, con chúng tôi 10 năm về trước”, anh Tân kể.
    Từ ngày về ở với anh chị Tân, Thuận, Bình nằng nặc đòi gọi tên là Tiến, ngay cả tên đệm cháu cũng đòi giữ.
    “Hãy coi con cháu những đứa trẻ bình thường”
    Bé Tiến bây giờ đã bước sang tuổi thứ 9. Cháu trắng trẻo, khôi ngô, ngoan và lễ phép nhưng cũng hiếu động hệt như những đứa trẻ cùng trang lứa khác. Khi chúng tôi ngồi nghe anh Tân kể chuyện thì Tiến không ngừng nô đùa trước sân, chọc tổ ong khiến anh Tân mấy bận phải đứng dậy nạt cháu.
    Câu chuyện dang dở thì chị Thuận mẹ cháu về, thoáng qua những dè dặt ban đầu, nhắc đến con chị cười nói xởi lởi lắm. Lần dở từng trang sách của cháu, đôi mắt chị vẫn ánh lên niềm hạnh phúc vô hạn: “Cháu đi học mấy năm liền đều đạt học sinh giỏi…”. Rồi chuyện trường, chuyện lớp, chuyện nghịch ngợm của trẻ nhỏ làm bầu không khí rộn ràng hẳn lên.
    Mải chuyện đã quá trưa tự lúc nào, chị Thuận giữ chúng tôi ở lại ăn cơm, chúng tôi cũng vui vẻ đồng ý. Khi mâm cơm đã dọn tinh tươm, Tiến vẫn đứng ngoài sân mê mải đọc cuốn Hương Hiếu Hạnh của nhà sư Thích Tâm Hiệp viết về trường hợp “đầu thai” của Tiến. Nghe anh Tân bảo, nhà sư sau khi nghe câu chuyện của Tiến đã viết một bài in trong tập sách Hương Hiếu Hạnh và tặng anh chị một cuốn. Từ lúc rõ mặt chữ, Tiến lúc nào cũng cầm cuốn sách và đọc đi đọc lại câu chuyện kể về mình. Những câu chuyện ngày xưa cháu cũng dần quên.
    Tôi đứng dậy gọi Tiến vào ăn cơm thì bất chợt cậu bé nắm tay tôi lắc lắc, chỉ ra phía con sông sau nhà: “Cô ơi, ngày xưa cháu chết ở kia kìa”. Dù đã nghe câu chuyện của cháu nhưng câu nói bất chợt của Tiến vẫn khiến tôi lạnh sống lưng.
    Hiện giờ, Cháu Tiến giờ ở nhà tôi với tư cách là “con nuôi”. Cháu vẫn thường xuyên qua lại nhà mẹ đẻ…”.
    Câu chuyện thứ 6: Ông Glenn Ford được thôi miên. Ông này không tin gì cả, ông nói ông không tin ở chuyện quá khứ, đầu thai. Nhưng ông đã nói ra đến năm kiếp khác nhau trong 5 sessions, 4 kiếp không kiểm chứng được nhưng có 1 kiếp kiểm chứng được. Đó là kiếp trong đó ông nói tiếng Pháp rất hay, một loại tiếng Pháp đặc biệt rất xưa. Khi nghe ông nói tiếng Pháp, BS mới hỏi ông đẻ ở đâu, làm gì thì ông trả lời tôi đẻ ở Paris, làm lính calvary, tức ngự lâm pháo thủ, làm ở triều vua Louis 14. Người ta đã thu lại băng ông nói chuyện. Chuyện này rất đặc biệt vì ông Glenn Ford này cả đời không hề biết tiếng Pháp. Người ta mới bảo ông diễn tả thành phố Paris. Trong lúc bị thôi miên, ông tả thành phố Paris như vậy như vậy... Họ lấy bản đồ thế kỷ 17 so sánh thì có đúng những con đường đó. Nhưng độc đáo hơn là mấy năm sau họ đem băng này nghe lại, trong số người nghe có một chuyên gia về ngôn ngữ Pháp. Ông này rất ngạc nhiên vì accent của ông Glenn Ford này là accent thế kỷ 17 và những danh từ ông dùng cũng là danh từ thế kỷ 17, bây giờ không ai dùng nữa cả. Độc đáo như vậy. Thành ra cái chuyện triết lý hồi nãy mình nói mình đi, sống, chết, đầu thai lại, chuyện đó có thiệt chứ không phải giả.
    Câu chuyện thứ 7: Cách đây mấy mươi năm, ở Thủ Ðức có một nữ Phật tử tu tại gia. Vì vợ chồng cô là tín đồ thuần thành, trọng Phật kính Tăng, nên các sư thường đến ghé thăm, có khi được mời nghỉ đêm tại nhà. Thời đó, ảnh hưởng chánh pháp chưa được lan rộng, tuy cô đã thọ quy giới nhưng chưa hiểu rõ về đạo, nên trong nhà cũng có nuôi heo để thêm rộng rãi cho cuộc sống. Khi nọ, có một vị Hòa thượng đến nghỉ đêm tại nhà cô, nửa đêm chợt thức giấc nghe tiếng động dưới bộ ván mình nằm, và có giọng nói nho nhỏ rằng: "Tụi bây không biết, chớ tao tên là Nguyễn Thị Hòa (vì liên hệ gia đình xin giấu tên) bởi có thiếu bà chủ nhà này một số tiền, nên phải đầu thai ra thân xúc vật để trả nợ". Hòa thượng nghe xong lấy làm lạ, sẽ lén nhẹ nhàng cúi xuống rình xem, thì thấy một heo nái nói chuyện với mười hai heo con đang bú.
    Sáng ra, Hòa thượng hỏi người tín nữ:
    - Lúc trước có cô Nguyễn Thị Hòa thiếu cô một số tiền như thế, có phải không?
    - Dạ thưa đúng như vậy. Nhưng cô ấy nghèo và bây giờ đã qua đời, nên con kể như bỏ luôn. Ủa! Mà chuyện này chỉ riêng mình con với cô ấy biết, ở nhà con cũng không hay, tại sao thầy lại hiểu rõ ràng như vậy?
    Hòa thượng đem chuyện đêm hôm thuật lại. Cô chủ nhà cả kinh, vội đem bán heo mẹ lẫn mười hai heo con, thì thêm một việc lạ, số tiền thu được đúng với tiền cô Nguyễn Thị Hòa đã thiếu mình khi trước.
    Trải qua sự này, cô tín nữ càng tin việc luân hồi nhân quả hiển nhiên là có thật. Từ đó cô tu hành thêm tinh tấn và cải gia vi tự, thành ra ngôi chùa Phước Trường hiện giờ. Tại chùa này, hiện nay linh vị thờ cô vẫn còn. Tiên đức đã bảo: "Súc sanh bản thị nhơn lai tố. Nhơn súc luân hồi cổ đáo kim!" (Súc sanh kia trước là người. Xưa nay người, súc luân hồi đổi thay!) Việc trên đây là một chứng minh cho lời này vậy. (Thuật theo lời Thượng tọa Thanh Từ, khi Thượng tọa đến diễn giảng và thăm chùa Phước Trường ở Thủ Ðức

    Nguồn http://thienphatvien.com

    Share:

    Thống kê Blogspot

  • Số khách đang xem:
  • Tìm người - Tìm việc

    Lưu trữ Blog

     
    BACK TO TOP