Cảm nhận tư duy và tổng hợp kiến thức

Hiển thị các bài đăng có nhãn Windows. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Windows. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 13 tháng 9, 2017

Phân vùng System Reserved là gì? Có xóa được nó không?

  • Heo How-To Geek, Windows 7/8 và 10 đều tạo một phân vùng đặc biệt gọi là "System Reserved" khi bạn cài nó lên một ổ đĩa trống. Windows không đặt ký tự cho nó nên bạn chỉ nhìn thấy trong các trình quản lý phân vùng (Disk Management chẳng hạn).
    ảnh minh họa
    Phân vùng System Reserved chỉ xuất hiện từ Windows 7 và Windows Server 2008 R2 trở lên nên bạn sẽ không thấy nó trên các bản Windows cũ hơn.
    Phân vùng System Reserved dùng để làm gì?
    System Reserved chứa 2 thành phần quan trọng sau:
    - Bộ quản lý khởi động (Boot Manager) và dữ liệu cấu hình khởi động (Boot Configuration Data): Khi khởi động máy, Windows Boot Manager đọc dữ liệu boot từ kho lưu trữ Boot Configuration Data (BCD). Máy tính khởi động bootloader từ phân vùng này, sau đó khởi động Windows từ ổ cứng cải Windows.
    - File khởi động (startup files) dành cho ổ đĩa mã hóa BitLocker (BitLocker Drive Encryption): Nếu đã mã hóa ổ đĩa bằng BitLocker, phân vùng này còn chứa các file cần thiết để khởi động máy. Máy tính sẽ khởi động phân vùng System Reserved không được mã hóa, sau đó giải mã ổ đĩa chính rồi khởi động hệ thống Windows đã được mã hóa.
    Phân vùng System Reserved được tạo khi nào?'
    Phân vùng System Reserved chiếm khoảng 100MB không gian ổ cứng đối với Windows 7, 350MB đối với Windows 8 và 500MB với Windows 10. Phân vùng thường được tạo trong quá trình cài đặt Windows, trước khi trình cài đặt tạo không gian cho phân vùng cài Windows chính.
    Có thể xóa phân vùng System Reserved không?
    Thực sự thì bạn đừng nên đụng chạm đến nó. Mặc định, Windows ẩn nó đi nên nhiều người còn không biết phân vùng này có tồn tại cho đến khi chạy các công cụ quản lý ổ đĩa. Nếu sử dụng BitLocker thì System Reserved bắt buộc phải có.
    Không cho Windows tạo phân vùng System Reserved
    Nếu thực sự không muốn phân vùng này tồn tại vì một lý do nào đó thì hãy "đừng cho Windows tạo ra nó" ngay từ đầu, tức là quá trình cài đặt Windows. Thay vì tạo phân vùng từ một không gian trống bằng công cụ tạo phân vùng có trong trình cài đặt Windows, hãy tạo một phân vùng mới chiếm toàn bộ không gian ổ đĩa bằng một công cụ khác trước khi chạy trình cài Windows. Khi cài đặt, chọn cài đặt Windows lên phân vùng duy nhất đã tạo trước đó. Trình cài đặt sẽ nhận ra rằng không còn chỗ trống cho phân vùng System Reserved và cài Windows lên phân vùng duy nhất đó.
    Tuy nhiên bạn vẫn không thể tiết kiệm thêm 100MB, 350MB hay 500MB vì các file khởi động vốn dĩ của phân vùng System Reserved sẽ được lưu lên phân vùng chính luôn (vì không còn chỗ chứa để tạo System Reserved).
    Nếu vẫn muốn làm tiếp, bạn cần dùng một phần mềm quản lý phân vùng bất kỳ miễn nó không phải phần mềm đồ họa trong trình cài đặt Windows là được. Tuy nhiên, bạn có thể làm điều này trong trình cài đặt Windows bằng cách sau:
    - Nhấn Shift + F10 trong trình cài đặt Windows để mở Command Prompt.
    - Nhập diskpart -> nhấn Enter.
    - Nếu chỉ có duy nhất một ổ cứng trong máy và nó hoàn toàn trống (không có bất cứ phân vùng nào được tạo), nhập select disk 0 -> Enter để truy cập ổ cứng, sau đó nhập create partition primary để tạo phân vùng với toàn bộ dung lượng trống trên ổ cứng.
    - Tiếp tuc quá trình cài đặt, khi được hỏi thì chọn phân vùng vừa tạo.
    Xóa phân vùng System Reserved đã tạo
    Có thể xóa phân vùng System Reserved khi nó đã được tạo sau khi cài Windows. Tuy nhiên bạn đừng xóa ngay sau khi đọc dòng này vì máy bạn sau khi xóa sẽ không thể khởi động được do các file bootloader được lưu trong phân vùng đó đã bị xóa.
    Để xóa phân vùng System Reserved, bạn phải di chuyển file boot từ nó sang phân vùng cài Windows, nghe thì dễ nhưng làm thì khó. Nó liên quan đến cả đống khóa registry, sao chép file giữa các ổ đĩa, cập nhật kho lưu trữ BCD và cài đặt phân vùng hệ thống chính làm ổ đĩa chính. Trên Windows 8, bạn còn phải tắt Windows Recovery Environment rồi bật lại.
    Nếu quan tâm, bạn có thể xem các hướng dẫn trên mạng còn chúng tôi thì không khuyến khích. Windows cũng không có bất cứ hỗ trợ kỹ thuật nào về vấn đề này. Bạn có đồng ý để có thêm vài trăm MB không gian lưu trữ nhưng phải làm rối tung registry và ổ đĩa hệ thống, chịu cảnh không thể dùng mã hóa BitLocker hay không?
    đăng bởi: vnreview

    Nguồn đọc thêm: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=1892133#ixzz4sbQNh3wO
    http://www.xaluan.com/raovat

    Share:

    Thứ Hai, 28 tháng 8, 2017

    Bill Gates góp 5,88 tỉ đô làm từ thiện


  • Tỉ phú công nghệ Bill Gates từ lâu đã nổi tiếng với những khoản quyên góp khổng lồ. Mới đây nhất là việc ông quyết định trích 5% giá trị tài sản tương đương 5,88 tỉ Mỹ kim để làm từ thiện. Danh tính của tổ chức nhận khoản tiền chưa được tiết lộ.

    Quỹ Bill & Melinda Gates do ông cùng vợ lập ra nhằm mục đích tài trợ cho các hoạt động từ thiện, các tổ chức phi chính phủ và các sáng kiến y tế nhằm loại trừ hoàn toàn một số bệnh trong đó có bại liệt, sốt rét và bệnh dịch ở các nước thuộc thế giới thứ 3.
    Cổ phiếu của Bill Gates ở Microsoft từ 24% năm 1996 hiện giảm xuống còn 1.3%. Tuy nhiên, ông vẫn được đánh giá là người giàu nhất thế giới với tài sản lên tới 115 tỉ Mỹ kim.
    Năm 2013, vị tỉ phú 61 tuổi tuyên bố mỗi người con của ông được thừa kế 1 tỉ Mỹ kim, phần còn lại, tương đương 95% giá trị tài sản, dùng làm từ thiện trong thời gian 20 năm sau khi vợ chồng ông qua đời.
    Khoản từ thiện mới nhất này được công bố cùng thời điểm có tin bào chế thành công loại vắc xin được chiết xuất từ lá cây có họ với cây thuốc lá có thể xoá sổ hoàn toàn bệnh bại liệt.
    Lá cây này có chứa thành phần giống virus gây bệnh nhưng không gây hại đối với sức khoẻ con người như vắc xin “sống” truyền thống.
    Các nhà nghiên cứu hy vọng loại vắc xin mới sau khi đi vào cơ thể sẽ đánh lừa hệ miễn dịch để chống lại bệnh. u

    Nguồn Thời báo - The Vietnamese Newspaper

    Share:

    Thứ Sáu, 25 tháng 8, 2017

    Khôi phục tập tin zip bị lỗi trên Windows

  • Thứ Ba, 22/08/2017 10:11 (GMT+7)
    Bạn lo lắng về việc dữ liệu cá nhân đang được lưu trong tập tin zip có thể bị mất bởi vì không thể giải nén tập tin này do thông báo lỗi?. Hãy thử ngay phương pháp sau đây để nhanh chóng khắc phục vấn đề này.
    Có thể nói, .zip là một định dạng thường xuyên được sử dụng nhất trong việc chia sẻ dữ liệu qua mạng Internet. Cụ thể, bằng cách sử dụng tính năng Compressed (Zipped) Folder trên Windows, hoặc một số công cụ từ hãng thứ 3 như Winrar hoặc 7-Zip, bạn có thể “đóng gói” nhiều thư mục, tập tin thành một tập tin .zip duy nhất, giúp việc chia sẻ những thư mục, tập tin này trở nên đơn giản hơn thay vì phải gửi hàng tá thư mục, tập tin rời rạc.
    Tuy nhiên, không phải lúc nào hệ thống cũng tạo ra một tập tin zip hoàn hảo, thậm chí tập tin này cũng có thể bị hư hỏng (thường là lỗi "Corrupted or Damaged") trong quá trình upload, chia sẻ hay khi tải về. Lúc này, cho dù người dùng đã cố gắng bao nhiêu đi chăng nữa, thì Windows (hay các phần mềm khác) cũng đều hiển thị thông báo rằng quá trình giải nén thất bại do tập tin zip đã bị hư hỏng.
    Đáng tiếc rằng việc sửa chữa các tập tin zip bị hư hỏng không phải chuyện dễ dàng bởi vì các công cụ chuyên dụng cho vấn đề này đều yêu cầu người dùng phải trả một khoản phí mới được sử dụng.
    Rất may mắn, với công cụ miễn phí mang tên ZIP Repair from DiskInternals sẽ giúp bạn giải nén (extract) các dữ liệu của mình đang được lưu trong tập tin zip bị hư hỏng kia.
    Cách thức sử dụng ZIP Repair from DiskInternals khá đơn giản, trước tiên, hãy tải về ứng dụng này thông qua liên kết tại đây, sau đó tiến hành giải nén và chạy tập tin .exe để khởi động quá trình cài đặt.
    Một khi cài đặt hoàn tất và khởi chạy ZIP Repair, trong giao diện chính của ZIP Repair, hãy nhấn Next để bỏ qua trang giới thiệu về ứng dụng này.

    Ở giao diện tiếp theo, hãy nhấn nút Browse bên dưới khung corrupted field và truy cập tới tập tin zip cần sửa chữa. Bên cạnh đó, bạn cũng nhấn nút Browse của khung Repaired file để chọn vị trí lưu trữ tập tin zip sau khi sửa chữa. Cuối cùng nhấn Next để tiếp tục.

    Lúc này, ZIP Repair sẽ hiển thị danh sách thư mục, tập tin đang được lưu trữ trong file zip bị corrupted hoặc damaged, nhấn Next để ứng dụng này bắt đầu quá trình sửa chữa và tạo ra một tập tin zip mới tại vị trí vừa được chọn ở thao tác trên.

    Một khi quá trình sửa chữa hoàn tất, bạn có thể giải nén tập tin zip bằng công cụ Compressed (Zipped) Folder mặc định của Windows hoặc các phần mềm chuyên dụng khác. 

    Tuy nhiên, ZIP Repair không phải "thần thánh" mà có thể sửa chửa tất cả tập tin zip bị hư hỏng. Ứng dụng này chỉ khả năng khôi phục một phần nào đó dữ liệu còn được lưu trong tập tin zip. Do vậy, với những dữ liệu không thể khôi phục, bạn buộc phải liên hệ với người cung cấp tập tin gốc để họ chỉnh sửa và chia sẻ tập tin zip khác.
    Nguồn Pc World Việt Nam

    Share:

    Thứ Hai, 26 tháng 6, 2017

    Hệ thống tổ hợp phím tắt hữu ích trên Windows 10

  • Ảnh Internet

    1. Đối với cô trợ lý ảo Cortana và các cài đặt hệ thống
    • Windows + I: Mở ứng dụng Settings của Windows 10
    • Windows + A: Mở nhanh trung tâm thông báo
    • Windows + X: Mở nhanh menu các lệnh tắt như khi bạn nhấn chuột phải vào nút Start Menu
    • Windows + S: Mở nhanh Cortana và sẵn sàng để gõ tìm kiếm
    • Windows + Q: Cũng để mở nhanh Cortana
    2. Đối với ứng dụng Command prompt
    • Shift + Phím mũi tên trái: Tô sáng các ký tự bên trái trỏ chuột
    • Shift + Phím mũi tên phải: Tô sáng các ký tự bên phải trỏ chuột
    • Ctrl + Shift + Phím mũi tên trái (phải): Tô sáng nguyên một cụm ký tự thay vì từng ký tự như bên trên
    • Ctrl + C: Copy đoạn văn bảng vào trong Windows clipboard
    • Ctrl + V: Dán ký tự vào trong cửa sổ ứng dụng Command prompt
    3. Các thao tác để điều hướng
    • Windows + Phím dấu phẩy (,): Nhấn và giữ để tạm thời ẩn tất cả cửa sổ để nhìn thấy màn hình Desktop
    • Windows + D: Thu nhỏ tất cả cửa sổ, quay về màn hình Desktop
    • Windows + Home: Thu nhỏ mọi cửa sổ ngoài trừ ứng dụng bạn đang sử dụng
    • Windows + L: Khóa máy tính của bạn và đưa về màn hình Lock Screen
    • Windows + E: Mở Windows Explorer
    • Alt + Phím mũi tên lên: Trở về thư mục lớn bên ngoài
    • Alt + Phím mũi tên trái/phải: Trở về thư mục phía trước/phía sau
    • Alt + Tab: Chuyển đổi nhanh giữa các cửa sổ
    • Alt + F4: Đóng nhanh cửa sổ đang mở
    • Windows + Shift + Phím mũi tên trái/phải: Chuyển cửa sổ đang mở sáng một màn hình khác (chỉ đối với hệ thống đang sử dụng nhiều màn hình trên một máy như kết nối máy chiếu, sử dụng 2 màn hình,…)
    • Windows + T: Di chuyển sự lựa chọn ứng dụng được gắn trên thanh taskbar. Chỉ cần Enter sau đó là có thể khởi chạy được ứng dụng
    • Windows +Phím số 1,2,3,…: Khởi chạy nhanh các ứng dụng được gắn trên thanh taskbar theo thứ tự của chúng
    4. Phím tắt chuyên sâu vào hệ thống
    • Ctrl + Shift + Esc: Mở ứng dụng Task Manager
    • Windows + R: Mở hộp thoại Run
    • Shift + Delete: Xóa ngay file mà không cần đưa vào thùng rác
    • Alt + Enter: Mở ngay menu Properties đối với ứng dụng đã được chọn
    • Windows + U: Mở trình Ease of Access Center
    • Windows + Phím Space: Chuyển đổi nhanh các phương thức nhập bàn phím đã được cài trên hệ thống
    5. Hình ảnh, video và hiển thị trên Windows 10
    • Windows + PrntScr: Chụp ảnh nhanh màn hình. Ảnh được lưu tại C:\Users\(tên người dùng)\Pictures\Screenshots
    • Windows + G: Mở ứng dụng quay phim màn hình Game DVR Recoder (card đồ họa phải hỗ trợ tính năng này)
    • Windows + Alt + G: Bắt đầu quay phim màn hình
    • Windows + Alt + R: Dừng quay phim màn hình
    • Windows + P: Chuyển đổi qua lại giữa các màn hình (đối với hệ thống có nhiều màn hình)
    • Windows + Phím +: Phóng to nội dung trên màn hình bằng ứng dụng Magnifier
    • Windows + Phím -: Thu nhỏ nội dung trên màn hình
    6. Phím tắt dành cho Microsoft Edge
    • Ctrl + D: Thêm nhanh Website đang xem vào danh sách yêu thích/đọc sau
    • Ctrl + I: Mở trình quản lý các trang yêu thích (Favorites)
    • Ctrl + G: Mở trình quản lý đọc sau (Reader List)
    • Ctrl + J: Mở trình quản lý download trên Edge
    • Ctrl + H: Mở trình quản lý lịch sử duyệt web
    • Ctrl + F: Mở trình tìm kiếm ký tự trên trang đang xem
    • Ctrl + K: Nhân đôi trang web đang xem bằng một tab mới
    • Ctrl + L hoặc Alt + D: Chuyển nhanh tới thanh nhập địa chỉ
    • Ctrl + F4 hoặc Ctrl + W: Đóng tab đang xem
    • Ctr + Shift + T: Mở lại tab vừa đóng
    • Ctrl + N: Mở một cửa sổ trình duyệt mới
    • Ctrl + P: In trang web đang xem
    • Ctrl + R hoặc F5: làm mới/tải lại trang đang xem
    • Ctrl + Shift + P: Mở cửa sổ mới ở chế độ riêng tư (InPrivate)
    • Ctrl + Shift + R: Chuyển trang đang xem về chế độ đọc (Reading View)
    • Ctrl + 1,2,3,...: Chuyển nhanh các tab đang mở theo thứ tự
    • Ctrl + 9: Chuyển tới tab cuối cùng
    • Ctrl + Phím +: Phóng to 25% nội dung trang web để “soi” cho kĩ, nhìn cho “đã”. Bấm thêm nếu muốn phóng to hơn nữa
    • Ctrl + Phím -: Thu nhỏ nội dung trang web
    • Ctrl + 0: Đưa trang web về dạng hiển thị 100% ban đầu
    • Backspaces hoặc Alt + Phím mũi tên trái: Quay lại trang web trước đó
    • Alt + Phím mũi tên phải: Mở tới trang sau đó
    • Esc: Ngưng không tải trang web nữa
    • Ctr + Click chuột trái: Mở đường link trong một tab mới
    • Ctrl + Tab: Chuyển tới tab tiếp theo trên cửa sổ Microsoft Edge
    • Ctrl + Shift + Tab: Chuyển tới tab trước đó
    • Ctrl + Shift + Click chuột trái: Mở link trong tab mới và chuyển tới tab đó luôn
    • Alt + Shift + Click chuột trái: Mở link trong cửa sổ trình duyệt mới
    Khanhnguyen' s Blog Sưu tập

    Share:

    Thứ Sáu, 9 tháng 6, 2017

    Cách cài Mac OS X lên VMWare trên Windows chạy mượt mà như máy Macbook xịn

  •  ​


    Mac OS X là một hệ điều hành tiên tiến, dễ dùng và cực kỳ ổn định khi sử dụng hàng ngày, chưa kể là Mac OS vốn rất đẹp nếu so với Windows hay Linux. Được sử dụng nó là mơ ước của rất nhiều người. Thế nhưng cái giá để có thể xài Mac OS là rất đắt đỏ vì Mac OS được tạo ra với mục đích chỉ chạy trên các máy tính Macintosh do Apple sản xuất. Trong bài này, mình sẽ hướng dẫn các bạn cài đặt Mac OS X lên VMWare trên Windows:


    Trước giờ, thông thường để chạy Mac OS X thì bạn chỉ có thể có 2 cách:



    1. Mua một cái máy Mac: khỏi nói, có tiền mua thì khỏi bàn rồi nhưng mà giá máy Mac thì mắc gấp 2-3 máy PC/Laptop cùng cấu hình





    2. Áp dụng kỹ thuật Hack-intosh, tức là cài đặt Mac OS lên một cái máy tính PC bình thường: cách này cho đến nay vẫn là phương thức thường dùng của người không có điều kiện mua máy Mac (có giá gấp 2-3 lần một PC hay Laptop cùng cấu hình), tuy nhiên giới hạn của Hackintosh là cấu hình máy hiện tại mà bạn đang sở hữu ít khi có thể chạy trơn tru với bản Mac OS Hack này do phần cứng không tương thích (Mac OS vốn chỉ hỗ trợ 1 số driver rất giới hạn), việc cài Hackintosh cũng khiến Mac OS bất ổn do các phần mở rộng nhân hệ thống (Kernel Extension - Kext) không phải lúc nào cũng tương thích với nhân của OS vì nó do các developer không phải cua Apple làm, tìm cách làm cho Mac OS chạy với các phần cứng không đúng với Apple thiết kế. Hackintosh về cơ bản bạn chỉ có 2 lựa chọn, 1 là mua 1 cái máy PC được lựa chọn kỹ phần cứng tương thích với các Kext đã được các Dev tạo sẵn, hoặc chấp nhận chạy Mac OS mà thiếu tính năng. Do đó giải pháp Hackintosh không thực sự hoàn thiện. Đặc biệt là Hackintosh hầu như ít tương thích với cácc Laptop vì cấu hình Laptop là không thể thay đổi. Vậy nên giấc mơ xài Mac OS có vẻ thực sự rất xa vời :)

    Giải pháp tốt nhất hiện nay:

    Cài đặt Mac OS X mọi phiên bản (từ 10.5 trở lên) lên VMWare như một máy ảo:



    Giải thích ngắn gọn: VMWare thực ra có một phiên bản VMWare dành cho Mac OS gọi là VMWare Fusion, bản VMWare này hỗ trợ việc chạy Mac OS X trên các máy Mac (chuyện đương nhiên :)), đây chính là khởi nguồn cho ý tưởng "VMWare Fusion có thể chạy Mac OS trên máy Mac. Vậy có cách nào để VMWare Workstation chạy Mac OS trên máy PC/Laptop Windows không?



    Ý tưởng này thực sự rất thú vị: do đó các hacker (trong đó có mình) có tham gia 1 thread trên InsanelyMac thảo luận về ý tưởng port các đoạn mã/tính năng hỗ trợ chạy Mac OS từ VMWare Fusion (Mac) qua VMWare Workstation (Windows). Ý tưởng này rất khả thi vì các bản VMWare thực ra được tạo ra từ cùng một CodeBase (cơ sở mã nguồn) như nhau thôi.



    Lúc đầu việc port được thực hiện khá thủ công. Đầu tiên là thử dùng máy ảo dạng FreeBSD (profile bsd) vì Mac OS X thực ra là một bản phát triển của Unix, rồi một file iso mồi thay thế cho UEFI boot (lúc đầu VMWare 6.0 - 7.0 chưa hỗ trợ UEFI - chôm từ Hackintosh) ... Các bước thủ công đó đều đem tới một kết quả rất khả quan là Mac OS boot và cài đặt bình thường trên VMWare Workstation Windows. Tuy nhiên cách làm khá phức tạp rất khó áp dụng vì liên quan tới patch VMWare này nọ để nó hỗ trợ Mac OS X ...



    Tới cuối năm 2011, một bạn siêu nhân nick Zenith432 đã tổng hợp các kỹ thuật trên và làm thành 1 bộ script tự động để patch VMWare, sau đó là sự ra đời của VMWare Workstation 8.0 cung cấp trọn vẹn UEFI boot cũng như một siêu nhân khác chỉnh sửa patchscript của bạn trên thành một bộ công cụ có tên Unlocker. Kỹ thuật patch VMWare để VMWare Workstation có các tính năng hỗ trợ Mac OS X như VMWare Fusion coi như hoàn thiện.



    Ok giới thiệu dài dòng vậy để bạn hiểu rõ nguồn gốc phát triển khá lâu dài của kỹ thuật này và giờ là cách thực hiện :)



    Yêu cầu phần cứng:



    Dĩ nhiên đây là máy ảo chạy trên máy thật nhưng dù gì thì vẫn có một chút yêu cầu đối với phần cứng đủ để chạy VMWare:



    1. RAM: 8 GB, tốt nhất là 8 GB muốn chạy máy ảo mà số RAM thấp hơn 8 GB thì hơn ái ngại chút vì máy sẽ chậm



    2. CPU: Intel Core i3, Core i5 hay Core i7 thế hệ nào cũng được vì Core i5 trở lên có hỗ trợ tập lệnh ảo hóa Intel Virtualization VT-x nên. Nếu Core i7 thì ngon hơn vì có thêm tập lệnh VT-d (IO Direct) giúp máy ảo truy cập trực tiếp phần cứng thật nên máy nhanh hơn. Core 2 Duo thì thôi dẹp vì không có VT-x máy chạy chậm lắm không chạy nổi VMWare đâu



    3. Ổ cứng: tốt nhất là SSD nếu có điều kiện (SSD 128GB giờ cũng khoảng 1 triệu mấy rẻ bèo, cắm vô thấy cái máy chạy nhanh gấp 100 lần liền), nếu không thì dùng HDD cũng được nhưng cảnh báo là sẽ chậm vì Mac OS X là HĐH đọc ghi dữ liệu rất ác, ngay cả máy Mac xịn cũng chuyển qua SSD cả rồi vì HDD chậm lắm. Tuy nhiên với Windows là HĐH chủ thì chúng ta có 1 phép màu khác :D nếu dùng HDD mà áp dụng phép màu này thì hiệu quả cũng được gần bằng SSD , tuy nhiên RAM bắt buộc phải 8 GB, dưới 8 GB là thua, cuối bài sẽ nói tới cái tối ưu này



    Yêu cầu phần mềm:



    1. Tải về VMWare Workstation bản 11.0 tải tại đây



    2. Tải về ảnh đĩa VMDK bộ cài Mac OS X 10.7 Lion mà xnohat đã tạo sẵn tại đây (cái này không thể kiếm ở đâu khác đâu :)) . Tải về giải nén (pass giải nén: xnoha) được file Mac OS X Lion Installer.vmdk .



    3. Tải về VMWare Mac OS Unlocker từ InsanelyMac tại đây (tải bản mới nhất là Unlocker 2.0.4 tương thích VMWare Workstation 11.0)



    Update 8/5/2015:
    4. Tải về VMWare Tools trích xuất từ VMWare Fusion 7.0 ( dành cho Mac, hỗ trợ tăng tốc đồ họa các OSX 10.9 và 10.10 như video DEMO ở dưới ) tải tại đây



    Cách thực hiện:



    1. Cài đặt VMWare Workstation 11.0 : cái này thì tự cài nghen



    2. Sau khi cài xong VMWare thì giải nén cái Unlocker 2.0.4 ở trên ra 1 folder, sau đó chạy file win-install.cmd






    Đợi 1 chút cho Unlocker nó patch VMWare, xong thì nó tự tắt cửa sổ dòng lệnh



    3. Vào VMWare tạo máy ảo mới > chọn Custom (Advanced) > chọn Hardware là Workstation 10 vì Hardware 10 có hỗ trợ VMWare Fusion, bản Hardware 11 VMWare Fusion chưa hỗ trợ > Next > I will install ... later ... > Chọn Mac OS X > chọn Mac OS X 10.7 (như hình dưới) > Next > chọn chỗ lưu máy ảo Mac OS X, nên chọn lưu vô ổ SSD để tăng tốc độ truy cập ổ cứng cho Mac OS X > Firmware Type chọn EFI (tức là UEFI) > Processors để mặc định là được > RAM mặc định > Network để là NAT > Next mấy cái mặc định tới khi gặp chỗ Create a New Disk (tạo ổ cứng mới) > Next > chọn Store Virtual Disk as a Single File để có hiệu suất cao > Next mấy cái tới Finish luôn.





    Vậy là đã có máy ảo



    4. Chọn máy ảo Mac OS X 10.7 và click vô dòng "Edit virtual machine settings":







    Bấm nút Add ở cửa sổ hiện ra, chỗ Hardware Type chọn Hard Disk:





    Next > Next > Chọn "Use an existing virtual disk" > Next > Disk File: chọn tới chỗ file Mac OS X Lion Installer.vmdk lúc nãy. Bấm Finish.



    Xong, giờ thì bấm nút Start (nút play màu xanh) để khởi động máy ảo Mac OS X.
    Chờ 1 chút sẽ thấy giao diện cài đặt Mac OS như dưới (hoặc giao diện chọn ngôn ngữ)





    Ok giờ thì phần cài đặt là của bạn, tự khám phá nhé :D



    Lưu ý: ổ đĩa ảo vẫn chưa được format đâu, nhớ dùng Utilities > Disk Utility để format thành định dạng Mac OS Extended rồi mới cài được nhé.



    Cài xong Mac OS X thì có thể vô App Store để update lên Mac OS X mới nhất 10.10 Yosmite nếu bạn thích cái HĐH bóng lộn ấy :D



    Cập nhật thêm:

    Quan trọng - Cài đặt VMWare Tools lên cho Mac OS X:



    VMWare Tools là một bộ driver của VMWare giúp cho Mac OS X có các tính năng:

    • Tự động điều chỉnh độ phân giải màn hình ( View -> Autosize -> Autofit Guest )
    • Kéo thả file giữa HĐH chủ (Windows) và HĐH khách (Mac OS X)
    • Chia sẻ ổ cứng, thư mục từ HĐH Windows qua Mac OS X.

    VMWare Tools này thực ra là bản trích xuất từ VMWare Fusion.


    Bạn vào menu VM > Removable Devices > CD/DVD > Setting > Chọn "Use iso image file"



    Tìm tới thư mục cài đặt VMWare (thường là "C:\Program Files (x86)\VMware\VMware Workstation\") trong đó có file Darwin.iso. Đây chính là bộ cài VMWare Tools cho Mac OS, chọn Open . Rồi chỗ mục Device Status chọn Connected > Bấm OK



    Update: với Mac OS 10.10 và 10.9 thì dùng bản VMWareTools ( darwin-fusion7.iso ) mới nhất mình trích từ VMWare Fusion 7 tải ở trên.



    Bạn sẽ thấy ổ đĩa CD tự chạy VMWare Tools, click cài đặt. Cứ next next next tới khi nó có nút Restart là xong.



    Chúc bạn vui vẻ với Mac OS X trên Windows - Apple không thích điều này :))))



    Cập nhật thêm:



    Tăng tốc độ ổ HDD gần bằng SSD



    Kỹ thuật tăng tốc này gọi là Disk Read/Write Caching on RAM tức là khi đọc ghi dữ liệu xuống ổ cứng, chúng ta sẽ dùng RAM là một bộ đệm tạm ở giữa giúp tốc độ truy xuất ổ cứng tăng lên tới 200% (tùy trường hợp).



    Tuy nhiên vì dùng RAM làm bộ đệm nên máy cần phải nhiều RAM, ít nhất là 8GB RAM thì mới đủ cho vừa đệm ổ cứng vừa VMWare vừa Máy ảo Mac OS X.



    Cách làm thì dùng phần mềm

    1. SuperCache: cái này thì mắc lắm (1000$ cho 1 license) có c***k nhưng chỉ cho bản 32bit thôi :D nên bạn nào giàu có tiền mua thì xài, cái này xài thì tốt nhất, hiệu quả nhất, tốc độ tăng mát trời ông địa luôn



    2. PrimoCache: kém hơn SuperCache 1 chút nhưng giá mềm hơn nhiều, chỉ 29$ (650k VND) nhưng không có c***k. Bạn được xài thử đầy đủ tính năng tới 90 ngày rồi mua



    PrimoCache thì cấu hình như dưới đây:





    Tóm tắt: dùng 1024 MB RAM làm bộ đệm, áp dụng đệm cho Đọc lẫn Ghi, bật chế độ đệm Ghi tức là ghi lên RAM sau đó 10 giây mới đẩy xuống ổ cứng (đây là phép màu đó, vì ghi lên RAM nên nhanh hơn ổ cứng 1000 lần, sau đó từ RAM mới từ từ ghi xuống ổ cứng)



    Chúc bạn vui vẻ với cái ổ cứng HDD nhanh gần bằng SSD






    Bài này nếu bạn nào copy đi đâu vui lòng đặt link dẫn nguồn về xnohat

    DEMO tốc độ Mac OS X trên VMWare cho bạn nào thắc mắc, chạy mượt Adobe Photoshop CC nghen ( thử với PS vì đây là thứ mà mọi người xài Mac OS đều thích xài )



    Nguồn Diễn đàn Tinh tế - Máy tính App - Mac OS X

    Share:

    Thống kê Blogspot

  • Số khách đang xem:
  • Tìm người - Tìm việc

    Lưu trữ Blog

     
    BACK TO TOP