Cảm nhận tư duy và tổng hợp kiến thức

Hiển thị các bài đăng có nhãn văn hóa nghệ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn hóa nghệ thuật. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 16 tháng 7, 2017

Hoa Tulip- Truyền thuyết và ý nghĩa


  • Mặc dù tulip được xem là một trong những biểu tượng của xứ sở Hà Lan nhưng nó lại có xuất xứ từ Udebekistan , một nước thuộc miền Trung Á thuộc nước Liên Xô cũ .

    Theo truyền thuyết thì Tulip là tên của cô gái út trong một gia đình gồm toàn 7 chị em gái . Cha cô tên là Xabidan -một người chăn cừu làm thuê cho tên điền chủ Hamit .Tulip rất thích ca hát và nhảy múa và cô có ước vọng được suốt đời đem tiếng hát và điệu múa để cho mọi người được hạnh phúc và vui tươi .Nhưng rồi một hôm đang khi Tulip đang ca hát và nhảy múa cho cha nàng trên sườn đồi Derapsan thì bất chợt tên điền chủ xuất hiện .

    Trước sắc đẹp thiên thần và giọng hát thật quyến rũ của Tulip , hắn đã rình rập trong bụi rậm chờ khi nàng Tulip quay trở về thì xông ra bắt có nàng đưa về dinh thự của hắn .Suốt từ lúc mặt trời mọc cho đến tận hoàng hôn, Tulip dầm mình trong đám bụi nhuế nhóa với công việc dệt thảm tẻ ngắt và mệt mỏi.

    Một mùa Hè tối tăm và tuyệt vọng đã qua. Rồi mùa Thu và mùa Đông cũng chấm hết. Nhưng khi mùa Xuân vừa đến thì nỗi buồn nhớ núi non, nhớ những con suối chảy rì rào và tiếng chim ca bỗng dày vò Tulip khôn nguôi, khiến nàng phải đi đến quyết định: Hoặc là chết hoặc là trở về với tự do .

    Một bữa nọ, Tulip lại bên cửa sổ phóng tầm mắt qua lỗ khe nhỏ nhìn xuống phía dưới. Nàng phát hiện ra ở ngay dưới chân cửa sổ có vô số những mảnh chai, kính vỡ - đó chính là cái bẫy, nếu tù nhân nữ nào liều mạng phá cửa sổ bỏ trốn thì sẽ bị cứa đứt chân.

    Đúng lúc đó có một con chim bay đến đậu ngay bên bệ cửa sổ - đấy chính là con bồ câu trắng của người chị cả tên là Pharidoda . Tulip vội vã cắt một ít tóc và cột vào châncuar bồ câu để báo tin cho chị của mình .Khi nhận được tin em út, Pharidoda nghĩ nát óc tìm cách cứu em gái. Cuối cùng nàng đến gặp bà lão Turushun. Bà lão sống đơn độc trong túp lều rách nát, ngày ngày kiếm cây cỏ làm thuốc chữa bệnh. Tương truyền Turushun có thuốc phục sinh .Turushun nghe hết chuyện Phariđoda kể, bà liếc nhìn mặt trăng rồi lầm bầm khấn:

    Tự do không phải thứ quà tặng mà phải đánh đổi nó bằng máu
    - Bằng máu của Tulip? - Pharidoda sợ hãi kêu lên.
    - Phải, bằng máu của Tulip, bằng máu của tất cả bảy chị em nhà ngươi. Mà không chỉ có thế, còn bằng chính cả máu của tất cả những người bạn quí, của những đứa bé nghèo nàn của các ngươi nữa.

    Hãy nghe ta nói đậy.Sau hai đêm nữa, đến đêm thứ ba, khi mặt trăng bắt đầu mọc lúc nửa đêm, Hamit sẽ tổ chức tại dinh cơ nhà lão một bữa đại tiệc. Như thường lệ, bọn lính gác bao giờ cũng là những kẻ bị chuốc rượu say trước nhất, mặc dù sáng hôm sau họ phải trả giá bằng một cái đầu. Ngay đêm ấy, trước lúc trăng lên, chị em các ngươi và các bạn gái của Tulip phải lọt được vào dinh cơ, còn chim bồ câu sẽ chỉ cho các ngươi cửa sổ phòng giam các cô gái. Hãy đi chân đất đến gần cửa sổ mà mở ra. Ta nói là phải đi chân đất. Bàn chân các ngươi sẽ bị thương vì mảnh kính. Bây giờ ta sẽ nói tại sao. Hamit nhanh chóng phát hiện ra bầy nô lệ của gã chạy trốn và gã sẽ đuổi theo. Căn cứ vào một vài vết máu, gã có thể biết một cách rõ ràng bầy nô lệ trốn đi đâu, nhưng nếu dấu vết đó lại quá nhiều thì gã sẽ lúng túng, trong khi đó có người lại đang leo lên một sườn dốc đứng mà ngựa của gã không leo được.

    Pharidoda làm tất cả những việc mà Turushun chỉ vẽ. Những tên lính canh bị chuốc rượu say mềm không còn nhận ra các cô gái đang lén lút bỏ trốn. Sau khi bị mảnh kính cứa nát bàn chân, các cô mở cửa sổ ra và khẽ gọi Tulip. Tulip nhảy ào qua cửa sổ, mặc dù hai bàn chân bị thương đau nhói nàng vẫn không dám kêu ca.

    Các bạn gái của nàng cũng chịu những đau đớn như thế. Các cô gái chạy toán loạn theo sườn núi. Dù hai bàn chân bị thương, phải chạy một cách khó khăn, các cô vẫn không dám rên rỉ, vì nếu để lộ, các cô sẽ mất tự do, một món quà mà các cô phải đổi bằng một giá quá đắt. Các cô cứ men theo sườn núi đá còn phủ tuyết mà chạy cho đến khi nghe rõ những tiếng vó ngựa dồn dập.Các cô gái chạy trốn dường như có gió giúp sức cho họ.

    Tuy vậy Tulip đã bắt đầu đuối sức, nàng bị rớt lại sau. Ngựa của Hamit đã ập đến sau lưng nàng. Chẳng lẽ nàng lại trở thành tù nhân của gã điền chủ không đội trời chung này, và lại không được trông thấy mặt trời cùng núi rừng nữa hay sao? "Không, thà chết trong tự do còn hơn là sống đời nô lệ!"

    Và, thế là Tulip gieo mình xuống dưới vó ngựa. Cả bốn vó ngựa xéo lên người nàng, nhưng chính con vật đã bị khuất và bị gẫy một chân. Hamit bị thương lết về nhà lúc trời còn chưa sáng, hối hả giục lũ gia nhân đuổi bắt những kẻ trốn chạy.Tulip người đẫm máu cố gượng đứng lên, nhưng mới đi được vài bước, nàng đã khựng lại và ngã sấp xuống tuyết.

    Sáng hôm sau, Hamit cùng lũ lâu la mò lên đỉnh núi cao tuyết phủ. Trước mắt chúng hiện ra một cảnh tượng kì lạ: trên bãi tuyết trắng lạnh có cơ mang những bông hoa đỏ đã bừng nở. Ngày nay cứ vào mùa xuân thì người ta lại thấy những bông hoa đỏ tươi mọc san sát bên sườn đồi Derapsan và từ đó loài hoa đó có tên là Tulip .

    Hoa tulip: tỏ tình yêu, thắng lợi và đẹp đẽ, biểu tượng người yêu hoàn hảo
    Hoa tulip vang: nụ cười em rạng rỡ như tia nắng.
    Hoa tulip trắng: tỏ lòng yêu quý, biểu tượng của sự sang trọng, kiêu sa.
    Một tình yêu thuần khiết.
    Hoa tulip đỏ: biểu lộ 1 tình yêu nồng cháy không thể cưỡng lại được.
    Đối với người Persian, hoa tulip là một lời đề nghị của người con trai trẻ với người trong mộng. Bằng cách tặng một bông hoa tulip, anh ấy muốn nói rằng "giống như màu đỏ của bông hoa, bên trong anh ngọn lửa tình yêu đang bùng cháy".
    Một tình yêu nồng cháy. 
    Nếu như hoa hồng là chúa tể tình yêu, thì uất kim hương ở thời của nữ hoàng Vitoria, khi người đàn ông tặng cho người mình yêu một bông hoa tulip đỏ, điều đó chứng tỏ anh ta muốn nói “Em rất xinh đẹp, nếu anh đuợc ngắm em dù chỉ một chút thôi thì gương mặt anh cũng sẽ bừng lên như lửa và trái tim anh sẽ cháy thành than”.
    Hoa tulip co nhiều đốm màu được dành cho "những đôi mắt đẹp
    Hoa tulip màu xanh: tỏ lòng chân thành.
    "thành thật về tình yêu" ^^

    Hoa tulip đen (La tulip noire): cũng co người gọi "Queen of the night"  mang ý nghĩa của tình yêu bất diệt.

    Lòai hoa có dáng hình xinh xắn như chiếc chuông trở ngựợc, vững vàng trên ngự trên cuống hoa rắn chắc kết hợp thành 1 thế đứng thật uy nghi nhưng không kém phần duyên dáng dịu dàng nhờ cánh lá xanh muớt thon dài ôm theo cọng hoa huớng trục thẳng. Mềm nhưng không mềm, cứng nhưng không rắn đó là đặc điểm nổi bật nhất của tulip. Bên ngoài yếu đuối nhưng bên trong thì mạnh mẽ, quyết đoán luôn tràn đầy nhựa sống....




    Share:

    Thứ Sáu, 21 tháng 4, 2017

    Cách uống chè

  • Cách uống chè thì trong sách Kiên biều đã nói rõ. Họ Lư, họ Lục nổi tiếng về uống chè. Đến đời Tống mới thấy bày đồ ấm chén, hỏa lò, cấp thiêu, đại khái cũng là những đồ để pha chè. Có ông Giới Phủ  thưởng chè Dương Tiễn, ông Tử Chiêm thưởng chè Vân Long. Từ đời Minh, đời Thanh trở xuống, cách chế chè càng tinh, đồ dùng chè càng đủ. Những thứ chè bồi sao, chế biến cũng khéo, và những các hồ, ấm, đĩa, chén, than, lửa, hỏa lò, cấp thiêu đều sắm sửa lịch sự cả. Nào là chè Võ Di, lò Thành Hóa, ấm Dương Tiễn, đều là những thứ tuyệt phẩm dùng để pha chè. Kể thói tục bày vẽ ra có lắm thứ khác nhau, nhưng chẳng qua cũng mấy thứ ấy mà thôi. Còn như chè tuyết nha, nước suối hồng tâm, dẫu các hạng phong lưu người Trung Hoa cũng chưa được nếm đủ hết, nên không dám nói đến.
    Thị hiếu của người ta cũng hơi giống người Trung Hoa. Ta sinh trưởng đương lúc thịnh thời đời Cảnh Hưng, trong nước vô sự, các nhà quí tộc, các bậc công hầu, các con em nhà quý thích đều đua chuộng xa xỉ, có khi mua một bộ ấm chén, phí tổn đến vài mươi lạng bạc. Thường có nhiều người đến chơi các hiệu chè, thăm dò các phố buôn, vác tiền hết quan ấy chục khác để mua chè ngon. Lúc ngồi rỗi, pha chè uống với nhau, lại đánh cuộc xem chè đầu xuân năm nay sớm hay muộn, giá chè năm nay cao hay hạ. Kẻ thì ưa thanh hương, người thì thích hậu vị, kén hiệu trỏ tên, mua cho được chè ngon, bày khay chén ra nếm thử. Thậm chí có kẻ đặt tiền sẵn mua cho được hiệu chè Chính Sơn, gửi tàu buôn đặt cho được kiểu ấm chén mới lạ, cách hiếu thượng đến thế là cùng cực. Song cái thú uống chè tàu có phải ở chỗ đó đâu! Chè tàu thú vị ở chỗ nó tinh sạch sẽ, hương nó thơm tho. Buổi sớm gió mát, buổi chiều trăng trong, với bạn rượu làng thơ cùng làm chủ khách mà ung dung pha ấm chè tàu ra thưởng thức thì có thể tỉnh được mộng trần, rửa được lòng tục. Ấy, người xưa ưa chuộng chè tàu là vì vậy. Từ các đời gần đây trở xuống, thưởng thức chè tàu càng ngày càng tinh, vị chè nào khác, cách chế chè nào ngon, đều phân biệt kỹ lắm. Lò, siêu, ấm, chén, lại chế ra nhiều kiểu thích dụng. Song chế ra nhiều thứ chè, kẻ thức giả cũng cho làm phiền lắm. Còn như nếm chè ở trong đám ruồi nhặng, bày ấm chén ở cửa chợ bụi lầm, lúc ồn ào đinh óc, vơ vẩn rộn lòng, thì dẫu ấm cổ đẹp đẽ, chè ngon ngát lừng, ta chẳng biết uống chè như thế có thú vị gì không? Giá có gặp ông tiên chè, thì cũng cho lời nói ta làm phải.


    Mùa thu năm Mậu Ngọ (1798), ta dạy học ở thôn Khánh Vân, tổng Hà Liễu, các học trò kinh thành cũng thường gửi quà về hỏi thăm, tuy cơm rau nước lã không được dư dụ cho lắm, nhưng chè tàu thì không lúc nào thiếu. Thôn Khánh Vân ở hạ lưu sông Tô Lịch, phía Bắc tiếp Xuân Nê, phía Nam gần Đỗ Hà; các núi Hoàng Xá về vùng Ninh Chúc, Tử Trầm, Nam Công thì vòng quanh ở phía Tây, còn những làng Nguyệt Cái, Đại Cái , Liễu Nội, Liễu Ngoại đều trông thấy ở gần chung quanh cả. Thổ sản có thứ vải quả, rau dưa, làng xóm rừng khe cũng nhiều chỗ tĩnh mịch đẹp đẽ . Khi dạy học rảnh, ta thường cùng với người đàn anh trong làng là Tô nho sinh dạo chơi chùa Vân, pha chè uống, hoặc trèo lên cái gò ba tầng ở phía tây xóm ấy, rồi múc nước suối pha chè uống chơi. Trông thấy những cảnh mây nổi hợp tan, chim đồng bay lượn, cùng là cỏ cây tươi tốt hay tàn tạ, hành khách lại qua, ta thường thường gửi tâm tình vào câu ngâm vịnh. Sau chỗ nhà trường ta là giải sông Tô, men theo bờ đê đi ngược lên đến cầu Nhị Khê là chỗ người làng qua lại nghỉ mát. Một buổi chiều, ta cùng với Tô huynh lên chỗ cầu xem các bè đánh cá, thấy đôi bên bờ sông bóng cây so le thấp thoáng, mảnh trăng in trên mặt nước trong veo, hai anh em cùng ngồi nói chuyện gẫu, bất giác tâm thần thanh sảng, thú vị vô cùng. Thấm thoát mới vài bốn năm nay, ta đã thôi không dạy học đấy nữa, mà Tô huynh thì đã qua đời. Tiền Mục Am có nói: "Cái vui về non nước bè bạn, tạo vật chưa dễ đã cho mọi người được hưởng, mà còn có phần lại khó hơn lợi lộc với vinh danh". Lời nói ấy chẳng là phải ru?
    Từ đời Khang Hy trở về sau, uống chè tàu mới đổi ra pha từng chén nhỏ, chứ không hãm trong ấm to nữa, vì uống chè, ấm chén cốt nho nhỏ, mỏng, khi pha mới nổi hương vị. Vòi ấm thẳng thì nước không đọng, mặt đĩa phẳng thì đặt chén không nghiêng, rế lò dầy mà lỗ thưa thì than lửa không bốc nóng quá, lòng ấm siêu lồi lên và mỏng thì sức lửa dễ thấu, chóng sôi. Ấy, cái cách pha chè uống nước, mới đầu còn thô, sau tinh dần mãi ra.
    Gần đây lại có chế ra thứ siêu đồng cũng khéo, nhưng kim khí bị hỏa khí nó hấp hơi, thường có mùi tanh đồng, không bằng dùng siêu đất nung, pha chè tốt hơn. Song các nhà quyền môn phú hộ khi uống chè lại lười không muốn pha lấy. Thường thường họ giao cho tiểu đồng pha phách tất cả, dùng siêu đồng cho tiện và lâu vỡ, như thế không phải bàn làm chi nữa. Khoảng năm Cảnh Hưng, ở Tô Châu có chế ra một thứ hỏa lò và một thứ than tàu đem sang bên ta bán, đều là những đồ dùng của khách uống chè cần đến, người ta đua nhau mua. Song gần đây đã có người biết cách chế ra, cũng bắt chước luyện than mà hầm lửa, nắm đất mà nặn lò, so với kiểu của Trung Hoa chẳng khác gì, người ta cũng ưa chuộng. Ta nhân thế lại tiếc cho người cầm quyền nước, xưa nay không biết lưu ý đến việc công nghệ dân ta. Tiếc thay!

    Phạm Đình Hổ (Vũ trung tùy bút)
    Nguồn Món ăn ngon

    Share:

    Thứ Ba, 8 tháng 11, 2016

    Cuộc đời tài hoa bạc mệnh của Cố nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ

  • Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
    Hoàng Thi Thơ (sinh 16 tháng 7 năm 1929 - mất 23 tháng 9 năm 2001) là một nhạc sĩ Việt Nam. Ông nổi tiếng tại miền Nam trước 1975 với những bài hát ca ngợi quê hương, đất nước, con người Việt. Một số bút hiệu khác của ông là Tôn Nữ Trà MiTôn Nữ Diễm HồngBích KhêTriệu Phong.
    Sau năm 1975, tại Việt Nam, ông cùng với nhạc sĩ Phạm Duy là hai người bị cấm về nhân thân (cấm toàn bộ tác phẩm)[1], đến đầu năm 2009, một số bài hát của ông mới được Cục Nghệ thuật Biểu diễn thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho phép phổ biến trở lại.

    Cuộc đời

    Hoàng Thi Thơ sinh ngày 1 tháng 7 năm 1929 tại làng Bích Khê, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông thuộc dòng họ Hoàng Hữu, một dòng họ khoa bảng có tiếng tăm ở đất Quảng Trị.
    Sau Cách mạng tháng Tám, Hoàng Thi Thơ gia nhập Đoàn Văn nghệ Quảng Trị như một diễn viên ca kịch nhạc do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba làm trưởng đoàn.
    Tháng 12 năm 1946, Hoàng Thi Thơ khi đang tham gia tuyên truyền cùng nhạc sĩ Trần Hoàn ở Huế thì kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Sau khi Huế thất thủ, ông trở ra Vinh theo đề nghị của nhà thơ Lưu Trọng Lư. Tháng 5 năm 1947, ông bắt đầu làm báo, viết văn, trở thành phóng viên và biên tập viên cho tờ nhật báo Cứu quốc của Việt Minh. Tháng 9 năm 1948, ông trở lại Huế, tiếp tục hoàn thành chương trình trung học ở Trường Khải Định (về sau trường dời ra Hà Tĩnh và đổi tên thành Trường Huỳnh Thúc Kháng).
    Sau khi học xong Tú tài, tháng 10 năm 1950, ông vào đại học tại trường Dự bị đại học Liên khu 3 và 4 tại Thanh Hóa, theo khoa Văn-Triết.
    Cuối năm 1952, ông bị Pháp bắt trong một chuyến về thăm gia đình. Sau hiệp định Genève, ông được tự do và vào Sài Gòn sống, dạy sinh ngữ Anh - Pháp ở các trường tư thục và theo nghề viết nhạc, hoạt động văn nghệ. Năm 1957, ông bắt đầu tổ chức những kỳ Đại nhạc hội tại rạp Thống Nhất Sài Gòn. Năm 1961, ông thành lập Đoàn Văn nghệ Việt Nam gồm hơn 100 nghệ sĩ tên tuổi và lưu diễn qua nhiều nước Á Châu cũng như nhiều thành phố trên thế giới: Vạn Tượng, Hồng Kông, Ðài Bắc, Tokyo, Bangkok, Singapore,Sénégal, Paris, London... và nhiều nơi ở Hoa Kỳ. Năm 1967, ông thành lập tiếp Đoàn Văn Nghệ Maxim, gồm 70 diễn viên ca-vũ-nhạc-kịch, tổ chức những chương trình ca vũ nhạc kịch đặc biệt tại nhà hàng Maxim. Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là người duy nhất được Bộ Thông tin và Tổng cục Chiến tranh Chính trị Việt Nam Cộng hòa nhiều lần cử thành lập và dẫn các đoàn văn nghệ Việt Nam sang Châu Âu trình diễn...
    Tháng 4 năm 1975, đoàn văn nghệ của ông đang lưu diễn ở Nhật Bản thì xảy ra sự kiện lịch sử ngày 30-4-1975. Ông không thể trở về nước được và từ đó phải định cư ở Hoa Kỳ. Ông có về Việt Nam 2 lần kể từ năm 1993.
    Sáng Chủ Nhật 23 tháng 9 năm 2001, ông qua đời một cách thanh bình tại nhà riêng ở Glendale, California trong khi chờ vợ làm một món cá mà ông thích. Ông được an táng tại vườn Vĩnh Cửu - nghĩa trang Peek Family, Quận Cam. Mộ của ông nằm ở nhà quàn Heritage Memorial Service, 17712 Beach Boulevard, Huntington Beach, Hoa Kỳ

    Gia đình

    Thời kỳ đi kháng chiến, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã có quan hệ tình cảm với Trương Tân Nhân, một người bạn học cùng trường. Về sau khi ông bỏ kháng chiến về thành và không thể trở lại, bà Tân Nhân lúc đó đã mang thai. Sau hiệp định Genève, bà ở lại miền Bắc và tiếp tục sự nghiệp ca hát. Người con trai của hai người mang tên Lê Khánh Hoài (lấy theo họ người chồng sau của bà), hiện đang hoạt động trong lĩnh vực kịch nghệ và điện ảnh tại Thành phố Hồ Chí Minh..
    Tháng 9 năm 1957, ông lập gia đình với ca sĩ Thúy Nga và có 4 người con: 3 trai 1 gái. Trong đó, người con trưởng là Hoàng Thi Thi, vừa là nhạc sĩ vừa là kỹ sư. Ngoài ra ông còn một người con nuôi là Hoàng Thi Thao, người cháu gọi ông bằng chú và cũng là người theo sát chân ông trong nhiều năm hoạt động văn nghệ.

    Sự nghiệp

    Âm nhạc

    Hoàng Thi Thơ sáng tác trên 500 ca khúc từ tình ca đến nhạc quê hương, dân ca đến nhạc thời trang, đoản khúc đến trường ca, nhạc cảnh đến nhạc kịch.
    Khoảng năm 1972-1973, ông sử dụng thêm bút danh mới là Tôn Nữ Trà Mi và sáng tác một loạt ca khúc mà báo chí thời đó gọi là "đem lại cho làng tân nhạc Việt Nam luồng sinh khí mới và cảm hứng tân kỳ" như "Rước tình về với quê hương", "Việt Nam ơi ngày vui đã tới", "Ô kìa đời bỗng dưng vui", "Xây nhà bên suối", "Ngày vui lý tưởng"... Những ca khúc này đã quen thuộc với người Việt Nam cho đến tận nay.
    Trong thời gian cộng tác với nhà hàng Maxim's (Sài Gòn), ông đã thực hiện những tiết mục ca nhạc kịch dã sử và sáng tác những ca khúc hào hùng như "Quang Trung đại phá quân Thanh" hoặc "Trưng Vương đại phá quân Đông Hán".
    Năm 1955, Hoàng Thi Thơ sáng tác hai bài trường ca đầu tiên mang tên "Triều Vui Thế Hệ" & "Máu Hồng Sử Xanh". Năm sau, ông cho ra đời trường ca “Ngày Trọng Đại” và đến năm 1963 là "Tiếng Trống Diên Hồng".
    Hoàng Thi Thơ còn là tác giả quyển “Để Sáng Tác Một Bài Nhạc Phổ Thông” xuất bản vào năm 1953, dày 500 trang và rất nổi tiếng với những phần hướng dẫn về hòa âm, luật sáng tác...
    Ông cũng là người đã nâng đỡ Sơn Ca và Họa Mi, đào tạo hai người này trở thành những nữ ca sĩ nổi tiếng.
    Ngoài ra, ông có thực hiện ba băng nhạc mang tên ông với những giọng ca thượng thặng thời đó.
    Ông được Trung tâm Thúy Nga và Thế giới Nghệ thuật thực hiện video về chủ đề nhạc Hoàng Thi Thơ.
    • Paris By Night 41: Hoàng Thi Thơ - Một đời cho âm nhạc I
    • Paris By Night 47: Hoàng Thi Thơ - Một đời cho âm nhạc II
    • Thế giới Nghệ thuật: Hoàng Thi Thơ - Một đời cho nghệ thuật

    Nghiên cứu nghệ thuật múa

    Hoàng Thi Thơ cũng nổi tiếng trong việc nghiên cứu các điệu múa. Ông được cho là người tiên phong xây dựng những điệu vũ vừa hiện đại vừa đậm chất dân tộc. Ông cùng với vũ sư Trinh Toàn và vũ sư Lưu Hồng đã có nhiều công trình hợp tác nghiên cứu và sáng tạo các điệu múa dân tộc: Vũ múa trống, Vũ lên đồng, Vũ múa nón, Múa xòe, Múa Koho...

    Nhạc kịch - điện ảnh

    Hoàng Thi Thơ đạo diễn sáng tác vở nhạc kịch đầu tiên năm 1963, mang tên "Từ Thức lạc lối bích đào". Năm 1964, vở nhạc kịch thứ nhì "Dương Quý Phi". Năm 1966 vở "Cô gái điên". Năm 1968 vở "Ả Đào say".
    Năm 1965, Hoàng Thi Thơ trở thành đạo diễn điện ảnh với cuốn phim đầu tiên là "Cô Gái Điên" quay thành phim từ nhạc kịch cùng tên của ông, do Trung tâm Điện ảnh Quốc gia sản xuất.
    Năm 1969, ông đạo diễn cho phim "Người cô đơn" do chính ông sản xuất. Sau khi ra đến hải ngoại, Hoàng Thi Thơ vẫn tiếp tục làm đạo diễn cho một số phim video như "Chuyện Tình Buồn", "Tiếng Hát Trong Trăng", "Người Đẹp Bạch Hoa Thôn" và "Chiêu Quân Cống Hồ".

    Tư liệu trên chỉ là những chương mục tóm tắt, thiết nghĩ vẫn chưa gọi là đầy đũ về cuộc đời với biết bao nhiêu mối quan hệ của Cố nhạc tài danh.
    "Con trai của ca sĩ Tân Nhân và nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ tự viết về đời mình: Như trong tiểu thuyết", đó cũng là tựa đề của một bài báo daidoanket.vn số ra ngày 23/5/2016 của tác giả Trương Nguyên Việt.

    .
    Ông từng là Thầy của những danh ca nổi tiếng một thời của những danh ca Họa Mi và Sơn Ca, Trên một bài báo Baodansinh.vn với nhan đề "chữ duyên giữa danh ca Họa Mi và nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ" số ra ngày 13/09/2016 có đoạn viết: "Trong mắt Họa Mi, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là một người kỹ lưỡng và rất khó tính. “Chú Thơ tài giỏi nhưng rất nghiêm khắc. Chú rất đúng giờ và tôn trọng ekip làm việc. Ai làm việc với chú cũng kính nể và quý trọng chứ không riêng tôi. Ngoài là một nhạc sĩ sáng tác nổi tiếng, Hoàng Thi Thơ còn là người đầu tiên soạn nhạc kịch ở Việt Nam. Ngoài ra chú còn làm đạo diễn phim nữa. Chú cũng là người đầu tiên thực hiện phim màu ở Việt Nam” – Họa Mi chia sẻ"
    Danh ca Họa Mi và nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ
    Theo Báo tuổi trẻ Online số ra ngày 22/03/2013 với đề tựa "Nhớ nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ", Khanhnguyen' s blog xin trích dẫn một đoạn như sau:
    Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ cùng vợ là Thúy Nga - nghệ sĩ phong cầm - Ảnh tư liệu
    "Âm nhạc của Hoàng Thi Thơ là một nét độc đáo, không lẫn lộn với bất kỳ ai. Nhạc thuật của ông biến hóa đôi khi hết sức dàn trải, đôi khi lại ứng dụng phương thức điệp âm, môtip rất gần gũi dễ nhớ, nhưng trong ca từ luôn luôn giàu có hình ảnh những nét đẹp của quê hương, khát vọng cho một tương lai tươi sáng."
    "Có thể nói cuộc đời của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là một hành trình dài kể lại những câu chuyện vui buồn trên đường quê hương, đặc biệt là những câu chuyện về những người con gái, mà chuyện đời đủ để làm rơi lệ hàng triệu người. Nhiều nhạc phẩm này của ông gần như được mọi người biết đến, được hát lên ở mọi lứa tuổi.
    Một trong những bài hát sẽ trình bày trong đêm “Tuyệt phẩm Hoàng Thi Thơ” là bài Chuyện tình nàng trinh nữ tên Thi - một ca khúc thuộc thể loại “hit song” của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ trong nhiều thập niên"

    Cả cuộc đời đầy biến cố thăng trầm với bao sự thay đổi. Tháng 0/1057 Ông lập gia đình với nữ ca sĩ Thúy Nga. Đến năm 1967, ông cùng với vợ thành lập đoàn ca vũ nhạc kịch Maxim's với hơn 70 nam nữ nghệ sĩ.
    Tháng 3 năm 1975, trong chuyến sang trình diễn tại Nhật Bản, cả nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và Thúy Nga bị kẹt luôn ở Nhật Bản cùng với đoàn, khi xẩy ra biến cố 30 tháng 4. Sau đó, hai vợ chồng cùng đoàn văn nghệ Việt Nam xin sang tị nạn tại Hoa Kỳ. Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ qua đời vào ngày 23 tháng 9, 2001, tại nhà riêng ở thành phố Glendale, California.
    Ở Việt Nam, lần đầu tiên sau 38 năm (1975 - 2013), một số ca khúc của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ sẽ chính thức đến với công chúng trong chương trình
    Tình khúc vượt thời gian với chủ đề Tuyệt phẩm Hoàng Thi Thơ và những bản tình ca.
    Từ khi định cư ở Mỹ (1975), hầu như Hoàng Thi Thơ không còn sáng tác, chỉ đến những ngày cuối đời ông mới viết thêm hai nhạc phẩm ca ngợi vẻ đẹp, nét duyên dáng của phụ nữ Việt Nam: Bài thơ má núng đồng tiền (năm 2000), Tóc thề chấm vai (giữa năm 2001)… Sự kiện dòng nhạc Hoàng Thi Thơ lần đầu tiên chính thức đến với công chúng tuy chỉ với một phần nhỏ trong nhạc mục Hoàng Thi Thơ nhưng cũng đã nói lên sự cởi mở của ngành văn hóa trong việc đánh giá các tác phẩm của các tác giả miền Nam trước năm 1975, đồng thời cũng đã đáp ứng được nhu cầu được hát lại những ca khúc trong sáng trước 1975 (không mang sắc thái chính trị) của công chúng.

    Tư liệu tham khảo:

    Khanhnguyen' s blog Tổng hợp

    Share:

    Thứ Năm, 3 tháng 11, 2016

    Cuộc đời Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

  • Ngày 19/5/2001 gia đình nhạc sĩ hoàn tất khu vườn mộ thật phiêu bồng lãng mạn. Ngày xưa, anh thích bạn bè, cây cỏ, đất trời thì nay, nơi anh dừng bước cũng cây cỏ và lồng lộng gió. Bạn bè của nhạc sĩ sẽ đến đây để ngồi ca hát hay lặng yên nhớ về những kỷ niệm cùng anh, hoặc chiêm nghiệm về cõi đời hư thực (21/5/2001)
    Vườn mộ của anh tại nghĩa trang Gò Dưa, TP HCM.
    giaitri.vnexpress.net, 1/4/2016

    Vì sao nhạc Trịnh Công Sơn trở thành bất hủ


    Mỗi năm, đến ngày giỗ Trịnh, gia đình, bạn bè, người hâm mộ đều tổ chức các chương trình tưởng nhớ ông. Năm nay, 15 năm nhạc sĩ đi xa, các hoạt động có phần rầm rộ hơn. Mỗi người yêu nhạc Trịnh đều có những lý do riêng để duy trì tình yêu của họ.
    Nhà thơ Anh Ngọc là một trong những người "yêu điên cuồng" nhạc Trịnh hơn 40 năm qua. Tình yêu đó bắt đầu từ ngày 30/4/1975, khi ông là phóng viên của báo Quân Đội, nằm trong đoàn quân tiến vào Sài Gòn. "Tôi ra chợ Bến Thành mua cái cassette nhỏ bằng bàn tay, người bán hàng lắp cho tôi cuốn băng phát thử, đó là cuốn Hát cho quê hương Việt Nam số 5 của Khánh Ly hát nhạc Trịnh", nhà thơ kể. Với băng nhạc đó, ông một mình vào doanh trại bỏ không của Sư đoàn thủy quân lục chiến trong thành phố, kê hai cái bàn lại với nhau và cứ thế nằm ngửa bật quạt trần nghe.
    "Trong trái tim của tôi có hai nửa, một nửa là con người chung, con người công dân, hướng tới mọi người, nửa còn lại do điều kiện chiến tranh tôi phải đóng kín - đó là con người cá nhân, riêng tư. 30/4, trong cuộc đoàn tụ của cả dân tộc, nhạc Trịnh đấm một cú mở toang cánh cửa đó. Với sự đánh thức của nhạc Trịnh, tôi sống bằng trái tim đầy đủ".
    Nhà thơ khẳng định cái riêng tư trong nhạc Trịnh lại chính là cái phổ cập ở mọi con người bình thường chứ không riêng ai. "Nhạc Trịnh viết về thế giới con người, đi qua 'cái' một người đến với mọi người, một thời đến với mọi thời, một nơi nói đến mọi nơi", nhà thơ nói.
    Với nhà nghiên cứu, phê bình văn học Chu Văn Sơn, nhạc Trịnh hấp dẫn ông từ tuổi học trò cấp ba, rồi trở thành niềm say mê khi ông là sinh viên Văn khoa và ngày càng sâu đằm theo thời gian. Theo ông, say mê hồi trẻ chỉ là của một người yêu nghệ thuật, mê ca hát, thấy nhạc Trịnh hợp với sở thích của mình. Còn giờ, là kiểu say mê của một người nghiên cứu nghệ thuật. Ông nhận định: "Càng ngày càng nhận thấy rõ các giá trị lớn của di sản Trịnh Công Sơn, một di sản không chỉ là âm nhạc". vi-sao-nhac-trinh-cong-son-tro-thanh-bat-hu Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thời trẻ.
    Ảnh PvĐ: tcs-home.org
    Có nhiều giá trị làm nên sự bất hủ của nhạc Trịnh.
    Nhà thơ Anh Ngọc cắt nghĩa, về khía cạnh lý trí, Trịnh Công Sơn có một cái đầu tràn ngập tư tưởng và có lõi triết học gồm cả minh triết phương Đông, đặc biệt là đạo Phật và minh triết phương Tây. Nhờ trụ trên xương sống triết học nên tác phẩm có tính vĩnh cửu. Về trái tim, Trịnh Công Sơn là người chỉ lắng nghe trái tim mình. "Một trái tim quá yêu thương, đồng cảm với người khác nên trái tim đó cháy sáng lên, như Maxim Gorky từng nói: 'đốt cháy trái tim lên thành trí tuệ'. Trái tim ấy luôn nhìn thấy hai mặt của cuộc đời này. Đẹp và buồn, yêu và đau. Nhạc Trịnh Công Sơn vĩ đại chỗ đó, phản ứng trung thực nhiều bình diện của cuộc sống, có thể gọi đó là tập đại thành về cõi đời này".
    Theo Anh Ngọc, với 600 ca khúc trong đó hàng trăm bài được mọi người thuộc và hát, hàng chục bài bất hủ, hoàn toàn có thể làm từ điển ca từ nhạc Trịnh với các trạng huống của con người, từ lúc chưa đẻ đến khi nằm xuống. Với ông, đó là cuốn bách khoa toàn thư về thế giới tinh thần, là tri âm tri kỷ, là thuốc giảm đau lúc buồn nhất. Nhà thơ cho rằng nhạc Trịnh nghe trên sân khấu hay đã đành, nhưng hay không kém là chúng ta tự hát một mình. "Nó chẳng khác gì một người bạn, là bạn của tất cả trái tim, đặc biệt những trái tim đau đớn, mất mát, tuyệt vọng".
    Bên cạnh những ca khúc về tình yêu và thân phận, Anh Ngọc nói mảng ca khúc Da vàng lay động những người lính như ông, bởi nó là tiếng khóc dài trước những thân phận trong chiến tranh, của một con người vì quá yêu thương con người, dân tộc mà đau.
    Nhà phê bình Chu Văn Sơn cho rằng Trịnh Công Sơn thuộc mẫu nghệ sĩ đa tài, mẫu ba trong một: nhạc sĩ - thi sĩ - họa sĩ. Chu Văn Sơn cắt nghĩa: "Nhạc Trịnh giản dị dễ hát, ca khúc nào của anh Sơn cũng là những giai điệu đầy chân cảm, ca từ nào của anh ấy cũng là một bài thơ, tâm trạng chuyển tải trong ca khúc không chỉ là tâm trạng tình nhân mà còn là trạng thái nhân thế của thời đại. Vì thế nó rất dễ đi vào lòng người. Nhưng, chỉ âm nhạc không thôi, không thể tạo sức sống lớn đến thế. Tôi tán thành ý kiến của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, một tri kỷ đặc biệt của anh Sơn, rằng: có một văn hóa Trịnh Công Sơn. Đúng thế, Trịnh Công Sơn ảnh hưởng đến tâm hồn người Việt như một văn hóa. Người ta thấy trong đó một cách yêu, cách sống, cách ứng xử với quê hương, với đất nước, với chiến tranh, với hòa bình, với thiên nhiên, với lịch sử, với sự sống, với cái chết, với thực tại, với hư vô... Nó làm giàu thêm, đẹp thêm cho lối sống Việt, văn hóa Việt".
    Nhà phê bình chia sẻ ông khó có thể kể ra ca khúc nhạc Trịnh yêu thích nhất. "Nhạc Trịnh hay khá đồng đều trên cả hai mảng chính trước đây là tình ca và phản chiến, trên cả ba chủ đề xuyên suốt là thân phận, quê hương và tình yêu. Ca khúc nào cũng được viết giản dị nhưng đều là những giai điệu vút lên từ tâm can máu huyết, nên ca khúc nào cũng là một mảnh hồn Trịnh, một ký thác Trịnh. Nó khiến cho ai đã yêu ông dường như đều phải yêu đủ, yêu trọn. Và thật khó khăn khi phải nói 'không' với ca khúc nào đó".
    Có nhiều thế hệ từ Khánh Ly vẫn nối nhau hát nhạc Trịnh Công Sơn.
    Trong chương trình diễn ra tối 2/4, nhiều thế hệ hát nhạc Trịnh gồm Khánh Ly, Hồng Nhung, Cẩm Vân - Khắc Triệu, Quang Dũng, ca sĩ nhí Huyền Trân đứng chung sân khấu để tưởng nhớ nhạc sĩ. Sự tiếp nối cho thấy nhạc Trịnh vẫn tiếp tục chảy trong đời sống.
    Khánh Ly chia sẻ bà hát nhạc Trịnh Công Sơn chỉ đơn giản vì yêu. "Tôi cũng như cỏ cây ấy, cơn mưa xuống thì nó mọc. Với tôi, nhạc Trịnh như lời an ủi, chia sẻ trong đời sống của mình. Tôi mong mỏi mọi người cũng như tôi, tìm thấy mình trong những ca khúc đó. Ông ấy không viết riêng cho ai đâu, ông ấy viết cho chúng ta. 'Em cứ hồn nhiên rồi em sẽ bình minh', đó là lời ông ấy nhắn nhủ tất cả chúng ta đấy".
    Nữ danh ca khẳng định từ lúc bắt đầu cho đến hiện tại, không có điều gì làm cho bà chán mà nghĩ đến việc thôi hát Trịnh Công Sơn. "Tôi sẽ hát cho tới khi không hát được nữa".
    Khánh Ly và Hồng Nhung sẽ đứng chung sân khấu hát nhạc Trịnh
    Hồng Nhung chia sẻ cô yêu thích nhạc Trịnh từ khi mới là thiếu nhi. Cô biết ơn khi được trưởng thành cùng âm nhạc và con người nhạc sĩ nên mong muốn dành tình cảm, sự thăng hoa để thể hiện âm nhạc đó đến mọi người. Với Hồng Nhung, Trịnh Công Sơn là người thầy, người bạn mà cô may mắn được gắn bó trong 10 năm cuối cuộc đời nhạc sĩ. Hồng Nhung nói: "Trịnh Công Sơn dặn khi ra đường thấy ai vẫy tay với mình thì hãy vẫy tay lại, hãy dành lòng tốt cho cuộc đời bởi không biết ngày sau có còn gặp nhau không. Đời sống nỗi buồn nhiều hơn và âm nhạc của anh cũng có điều đó nhưng nó lại luôn hướng tới niềm vui, những điều đẹp đẽ. Lúc nào anh cũng cổ vũ mọi người hãy yêu nhau đi".
    Theo nữ ca sĩ, nhạc Trịnh Công Sơn gắn liền với đời sống người yêu nhạc ông nên mới có chuyện ngày xưa sinh viên đại học có trò xem bói bằng nhạc Trịnh. Với cô, mỗi thời đoạn cuộc sống khác nhau lại thấy phù hợp những bài hát khác nhau. "Hiện nay tôi cảm thấy yêu đời, biết ơn đời sống dành cho mình rất nhiều trong cả sự nghiệp âm nhạc và cuộc sống gia đình nên thích những bài hát viết về người mẹ hay hướng tới điều tốt trong mỗi ngày sống như Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui, Mưa hồng...". Hồng Nhung tiết lộ đó là những ca khúc cô vẫn hát thầm mỗi ngày.
    Hồng Nhung tin rằng âm nhạc Trịnh Công Sơn sẽ không thành lịch sử mà tiếp tục đi cùng các thế hệ Việt Nam. Cô nhìn thấy tình yêu không đổi ở khán giả, từ thời Trịnh Công Sơn còn trẻ vác guitar gỗ đi các trường đại học cùng Khánh Ly hay giờ đây ở trường đại học thời đại internet, nhạc Trịnh vẫn vang lên như vậy.
    Người nghe thì có nhiều lựa chọn. Với nhiều người, chỉ Khánh Ly mới làm nên nhạc Trịnh. Nhà thơ Anh Ngọc gọi mối quan hệ giữa nhạc sĩ họ Trịnh và nữ danh ca là "mối lương duyên có một không ai của âm nhạc Việt Nam". Ngoài Hồng Nhung, Quang Dũng được đánh giá thể hiện tốt một số bài, với nhà thơ Anh Ngọc, người có thể hát nhạc Trịnh hay thứ hai sau Khánh Ly chính là Trịnh Công Sơn.
    Với nhà phê bình Chu Văn Sơn, ông thừa nhận Khánh Ly là "ca sĩ lớn, thậm chí là ca sĩ vô song về hát nhạc Trịnh" nhưng ông cũng khá cởi mở để đón nhận những ca sĩ sau này như Mỹ Linh, Hồng Nhung, Thanh Lam, Tùng Dương hay Giang Trang... làm mới nhạc Trịnh Công Sơn. Theo ông, đây cũng chính là điều nhạc sĩ họ Trịnh khi còn sống mong muốn. "Mỗi ca sĩ ấy đem lại, hay đúng hơn, là tô đậm cho nhạc Trịnh ở một vẻ đẹp nào đó. Vì thế mà nhạc Trịnh được sống với nhiều bình diện, thậm chí nhiều đời sống. Tôi lấy ví dụ, thể hiện vẻ đẹp của trải nghiệm trong nhạc Trịnh, thì khó ai qua được Khánh Ly, vẻ đẹp sang trọng khó ai bì được Mỹ Linh, vẻ đẹp tươi tắn khó ai bằng Trịnh Vĩnh Trinh, Hồng Nhung, vẻ đẹp mê mị khó ai sánh được Tùng Dương, Thanh Lam, còn vẻ đẹp an nhiên thì các anh tài khác có thể phải nhường Giang Trang...".
    Trong cuộc trò chuyện về nhạc Trịnh, nhà thơ Anh Ngọc nhắc tới câu nói của Trịnh Công Sơn, đại ý con người ta hãy sống làm sao để "khi sống thì đầy ắp sự có mặt, còn khi mất đi thì đầy ắp sự vắng mặt". Trịnh Công Sơn đã làm được điều đó. Sự hiện diện của ông không phải bằng thể xác mà trong nỗi nhớ của hàng triệu người yêu nhạc Trịnh, trong ngày hôm nay - 1/4.
    Anh Sa

    Ai là người phụ nữ “đặc biệt” nhất trong cuộc đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

    Họ là mối tình đầu, là những “nàng thơ” trong âm nhạc của người nhạc sĩ tài ba.

    Ngô Vũ Bích Diễm

    Ca khúc Diễm xưa được cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sáng tác vào năm 1960 đã trở bản tình ca làm say lòng bao thế hệ khán giả mộ điệu. Bài hát được vị nhạc sĩ tài hoa lấy cảm hứng từ “tình yêu đầu thầm lặng” dành cho “nàng thơ” – Ngô Vũ Bích Diễm, một cô gái Hà Nội theo gia đình vào Huế sinh sống.
    Ai-la-nguoi-phu-nu-dac-biet-nhat-trong-cuoc-doi-nhac-si-Trinh-Cong-Son-1

    Ca khúc "Diễm xưa" là bài hát nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết về "nàng thơ" - Bích Diễm.

    "Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến Trường Đại học Văn khoa ở Huế. Nhiều ngày, nhiều tháng của thuở ấy, người con gái ấy vẫn đi qua dưới những vòm cây long não. Có rất nhiều mùa nắng và mùa mưa cũng theo qua. Những mùa nắng, ve râm ran mở ra khúc hát mùa hè trong lá. Mùa mưa Huế, người con gái ấy đi qua nhạt nhòa trong mưa giữa hai hàng cây long não mờ mịt...", nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết lại như vậy về Diễm.
    Trong mối tình với Diễm, Trịnh dường như chưa kịp nói lời yêu, mà chỉ thổ lộ tình cảm qua những ca khúc tặng Diễm, và Diễm cũng vì cách trở mà không giám đáp lại tình cảm của Trịnh. Có lẽ mối tình ấy đẹp như một nụ hoa mãi e ấp.
    Tâm sự với báo giới, “Diễm xưa” thừa nhận mình người phụ nữ ít nói, sống đơn giản: “Suốt thời gian qua tôi chọn cách im lặng vì cái bóng của anh Trịnh quá lớn và Diễm xưa đã đi vào huyến thoại” – bà chia sẻ.
    Ai-la-nguoi-phu-nu-dac-biet-nhat-trong-cuoc-doi-nhac-si-Trinh-Cong-Son-2

    Diễm của hôm nay trong một lần trở về Việt Nam gần đây nhất.

    Nếu như với Trịnh Công Sơn, "Diễm xưa" là mối tình đầu day dứt đến nao lòng, khó quên nhưng mỗi khi nghĩ đến là đau cả “tâm gan” thì với bà Bích Diễm những ngày tháng gặp Trịnh Công Sơn tại Huế là những kỷ niệm đẹp và là một tình yêu bất tận của thời thanh xuân: “Từ khi anh Sơn mất, tôi rất ít về Huế vì có quá nhiều kỷ niệm, có lẽ linh hồn tôi đã gửi trọn vào Huế, những tháng ngày đó sẽ chẳng bao giờ quay trở lại” – bà tâm sự.

    Ngô Vũ Dao Ánh

    Có rất nhiều “bóng hồng” bước qua cuộc đời của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn nhưng cô gái Huế luôn chiếm một vị trí đặc biệt. Bà chính là nguồn cảm hứng để ông viết nên những ca khúc nổi tiếng nhưCòn tuổi nào cho em, Lặng lẽ nơi này, Mưa hồng, Tuổi đá buồn...
    Ai-la-nguoi-phu-nu-dac-biet-nhat-trong-cuoc-doi-nhac-si-Trinh-Cong-Son-3

    Dao Ánh năm 16 tuổi, phía sau là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

    Dao Ánh là em gái của Ngô Vũ Bích Diễm - nhân vật chính trong ca khúc Diễm xưa. Khi mối tình Trịnh - Diễm không thành, Dao Ánh đã viết thư động viên Trịnh Công Sơn. Tình cảm chân thành của cô gái 15 tuổi đã khiến cho chàng nhạc sỹ 24 tuổi rung động. Trịnh Công Sơn đã viết thư lại và đó là khởi đầu cho một mối tình kéo dài gần 4 năm giữa họ (từ 1964 - 1967).
    Ai-la-nguoi-phu-nu-dac-biet-nhat-trong-cuoc-doi-nhac-si-Trinh-Cong-Son-4

    Chị em Bích Diễm và Dao Ánh.

    Trong thời gian yêu nhau, Dao Ánh còn đang là cô nữ sinh của trường Đồng Khánh, Trịnh Công Sơn lúc này đã viết cho Dao Ánh khoảng 300 bức thư tình: “Anh nhớ Ánh, nhớ Ánh , nhớ Ánh mà không nói được với ai. Như tiếng kêu của một loài kiến nhỏ. Làm thế nào Ánh nghe thấy... Ánh ơi, Ánh ơi, Ánh ơi, Ánh trở về buổi trưa mắt buồn, áo trắng... Rất mong thư Ánh mỗi ngày mỗi giờ mỗi tháng mỗi năm...” - trích bức thư Trịnh Công Sơn gửi cho Dao Ánh ngày 16/2/1965.
    Sau gần 4 năm gắn bó, Trịnh Công Sơn biết rằng không thể cho Dao Ánh một mái ấm gia đình nên ông chủ động chia tay. Trong bức thư chia tay, nhạc sỹ họ Trịnh viết: "Anh xin cảm ơn bốn năm ròng rã nâng niu tình yêu đó. Cũng xin cảm ơn những buổi đợi chờ thật dịu dàng không bao giờ còn có được…".
    Sau cuộc tình đẹp nhưng cũng đầy xót xa với Trịnh Công Sơn, Dao Ánh đã sang Mỹ và lập gia đình. Bà vẫn giữ liên lạc với gia đình người nhạc sỹ này. Vào năm 1993, Dao Ánh trở về Việt Nam và tìm gặp lại người cũ. Trịnh Công Sơn cũng đã viết ca khúc Xin trả nợ người để tặng bà. Sau cuộc tái ngộ này, Dao Ánh đã ly dị chồng.
    Ai-la-nguoi-phu-nu-dac-biet-nhat-trong-cuoc-doi-nhac-si-Trinh-Cong-Son-5

    Dao Ánh và Trịnh Công Sơn ngày gặp lại...

    Những ngày cuối đời nhạc sỹ Trịnh Công Sơn bị ốm nặng, Dao Ánh cũng trở về Việt Nam chăm sóc ông. Bà cũng đã gửi tặng lại gia đình nhạc sỹ này hơn 300 bức thư tình mà ông đã gửi cho bà thuở còn yêu nhau.

    Khánh Ly

    Khánh Ly là người phụ nữ có một vị trí đặc biệt trong sự nghiệp âm nhạc của Trịnh Công Sơn. Sự xuất hiện của Khánh Ly đã tạo nên một làn gió đầy sức sống cho nhạc Trịnh trước năm 1975.
    Đến nay, có thể thấy Khánh Ly là người đàn bà duy nhất hát và tạo ra một hình hài hoàn thiện mang đủ tất cả những sắc thái tinh thần trong âm nhạc Trịnh Công Sơn. Khánh Ly cùng Trịnh ca đã trở thành một hiện tượng của cả nền âm nhạc miền Nam thời bấy giờ.
    Ai-la-nguoi-phu-nu-dac-biet-nhat-trong-cuoc-doi-nhac-si-Trinh-Cong-Son-6

    Khánh Ly là người phụ nữ có một vị trí đặc biệt trong sự nghiệp âm nhạc của Trịnh Công Sơn.

    Nhớ lại kỉ niệm với Trịnh Công Sơn, Khánh Ly chia sẻ: “Tình cảm vợ chồng có lúc còn gãy đổ vì chưa chắc đã ăn đời ở kiếp với nhau. Tình yêu đôi khi chỉ một - hai năm đầu. Anh em cũng dễ khúc mắc. Nhưng tôi với Trịnh thì không hề xảy ra chuyện gì cả, là bởi vì giữa hai người là tình cha con, không ai có thể lên án hay xuyên tạc".
    Sau năm 1975, Khánh Ly và Trịnh Công Sơn phải cách biệt nửa vòng trái đất. Tuy nhiên khi đã sang xứ người, Khánh Ly vẫn tiếp tục cất cao tiếng hát về tình yêu, thân phận của Trịnh Công Sơn như một lời tri ân với người nhạc sĩ tài hoa đã giúp bà được biết đến rộng rãi.
    Ai-la-nguoi-phu-nu-dac-biet-nhat-trong-cuoc-doi-nhac-si-Trinh-Cong-Son-7

    Khánh Ly từng chia sẻ: "Giữa tôi và Trịnh Công Sơn là tình cha con".

    Khi hay tin Trịnh Công Sơn mất, ở bên Mỹ, Khánh Ly bị sốc và phải đi cấp cứu. Sau này bà chia sẻ về khoảnh khắc đau thương đó: “Trịnh Công Sơn có thể có những giây phút không nhớ đến tôi, nhưng riêng tôi lúc nào cũng nhớ đến anh. Bởi như tôi đã nói, anh là một nửa đời sống của tôi”.
    Ở tuổi 72, Khánh Ly vẫn rất chú ý tới hình ảnh. Bà trang điểm cẩn thận, mặc một chiếc áo dài và khoác khăn quàng rực rỡ, mỗi tay đều đeo vòng và nhẫn ngọc. Trên cổ có một dây chuyền với hai chiếc nhẫn cưới giản đơn lồng vào nhau. Giọng ca gốc Hà Nội chia sẻ, sau khi chồng mất, bà tháo nhẫn cưới của hai người ra vào đeo chúng lên.Trải qua những giông bão và truân chuyên không ít trong đời môt người đàn bà, ở độ tuổi thất thập, Khánh Ly hi vọng sẽ cháy hết mình trong lần tưởng nhớ người nhạc sĩ tài hoa này, đồng thời tiếp thêm lửa cho nhạc Trịnh cháy và sống mãi.
    Ai-la-nguoi-phu-nu-dac-biet-nhat-trong-cuoc-doi-nhac-si-Trinh-Cong-Son-8

    Khánh Ly năm nay đã 72 tuổi.

    Hồng Nhung

    Hồng Nhung gặp Trịnh Công Sơn vào năm cô vừa tròn 20 tuổi, và đó chính là dấu mốc tạo nên một mối lương duyên vô cùng đẹp, cũng là bước ngoặt lớn làm thay đổi cuộc đời âm nhạc của Hồng Nhung.
    Với cách thể hiện mới lạ, Hồng Nhung đã làm sống lại nhạc Trịnh trong giai đoạn đổi mới của đất nước. "Bông hồng nhỏ" cũng là người thể hiện những ca khúc của Trịnh Công Sơn nhiều nhất trong những năm 1990 - 2000.
    Ai-la-nguoi-phu-nu-dac-biet-nhat-trong-cuoc-doi-nhac-si-Trinh-Cong-Son-9

    Hồng Nhung gặp Trịnh Công Sơn vào năm cô vừa tròn 20 tuổi.

    Nói về “nàng thơ” thuở nào, Trịnh Công Sơn lúc sinh thời đã dành cho cô những đánh giá cao: “Hồng Nhung làm mới lại những ca khúc của tôi. Có người thích có người không thích. Tuy nhiên tôi thích vì đó là cách biểu hiện mới phù hợp với cái tiết tấu của thời hiện đại. Nó giúp mình có được chỗ ngồi trong hiện tại chứ không phải là kẻ nhắc tuồng từ quá khứ”.
    Giữa Hồng Nhung và Trịnh Công Sơn, không chỉ có âm nhạc mà còn có cả một “cuộc tình” như lời Trịnh Công Sơn từng nói: "Hồng Nhung là một người quá gần gũi, không biết phải gọi là ai”.
    Ai-la-nguoi-phu-nu-dac-biet-nhat-trong-cuoc-doi-nhac-si-Trinh-Cong-Son-10

    Trịnh Công Sơn từng nói: "Hồng Nhung là một người quá gần gũi, không biết phải gọi là ai”.

    Bản thân diva cũng từng khẳng định mối nhân duyên giữa mình và vị nhạc sĩ tài hoa: “Anh nghĩ tôi và anh quá thân để không biết gọi là ai. Bạn thì anh thân hơn là bạn, thầy thì anh thân hơn là thầy. Và ở giữa hai chúng tôi chắc chắn là có một tình yêu, nhưng tình yêu đó như thế nào thì tôi giữ riêng cho mình".
    Mối thâm tình trong âm nhạc giữa Hồng Nhung và Trịnh Công Sơn cho đến giờ vẫn là một cuộc tình đẹp hiếm hoi. Chính vị nhạc sĩ tài hoa này đã viết tặng Hồng Nhung Thuở bống là người và từ đó cô đã gắn liền với biệt danh này. Vì thế, với nhiều người sau Khánh Ly, em gái Trịnh Vĩnh Trinh thì giọng ca Hồng Nhung được coi là người phù hợp với nhạc Trịnh nhất.
    Ai-la-nguoi-phu-nu-dac-biet-nhat-trong-cuoc-doi-nhac-si-Trinh-Cong-Son-11

    Mối thâm tình trong âm nhạc giữa Hồng Nhung và Trịnh Công Sơn cho đến giờ vẫn là một cuộc tình đẹp hiếm hoi.

    Cẩm Vân

    Giống như Hồng nhung, Cẩm Vân đã có sự đổi mới so với thế hệ trước 1975 khi thể hiện các ca khúc của Trịnh Công Sơn.
    Với chất giọng khỏe khoắn, trầm ấm, Cẩm Vân thổi vào nhạc Trịnh một luồng gió mới với cách thể hiện hiện đại, tươi mới và mang màu sắc trẻ trung, bớt sầu bi hơn hơn so với những bậc tiền bối trước đó.
    Ai-la-nguoi-phu-nu-dac-biet-nhat-trong-cuoc-doi-nhac-si-Trinh-Cong-Son-12

    Cẩm Vân yêu mến và quý trọng Trịnh Công Sơn như một người thầy đã truyền cho nữ ca sĩ niềm đam mê với âm nhạc.

    Cẩm Vân từng chia sẻ lần đầu hát nhạc Trịnh lúc 11 tuổi, đi học đạp xe hát Nối vòng tay lớn. Lần đầu hát trên sân khấu cách đây hơn 30 năm với bài hát Diễm xưa – do chính nhạc sĩ hướng dẫn.
    Trong tâm trí mình, Cẩm Vân luôn dành cho người nhạc sĩ tài hoa này rất nhiều tình cảm, sự trân trọng và quý mến như một người học trò dành cho người thầy đã dìu dắt và mang đến cho mình niềm đam mê trong âm nhạc.
    Ý Yên - Ảnh: TH (TT&VH)





    Share:

    Thống kê Blogspot

  • Số khách đang xem:
  • Tìm người - Tìm việc

    Lưu trữ Blog

     
    BACK TO TOP